MỤC LỤC
Trang
|
Chuyên đề 1. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật…..….
|
3
|
|
Chuyên đề 2. Lĩnh vực pháp luật dân sự……………………….…
|
16
|
|
Chuyên đề 3. Lĩnh vực pháp luật hôn nhân và gia đình………….
|
182
|
|
Chuyên đề 4. Lĩnh vực pháp luật đất đai, xây dựng và bảo vệ môi trường…
|
274
|
|
Chuyên đề 5. Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý……………
|
342
|
|
Chuyên đề 6. Những nội dung pháp luật khác liên quan……………
|
369
|
Chuyên đề 1
HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
MỤC LỤC
Trang
|
I. VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT……………………………...
|
4
|
|
1. Khái niệm……………………………………………………………..
|
4
|
|
2. Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc áp dụng, công khai văn bản quy phạm pháp luật …………………….……….…………….
|
4
|
|
II. HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT………...
|
9
|
|
|
|
|
|
|
I. VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
1. Khái niệm
Để tạo căn cứ cho các cơ quan có thẩm quyền phân biệt văn bản quy phạm pháp luật với văn bản hành chính và văn bản áp dụng pháp luật, góp phần hạn chế tối đa số lượng văn bản hành chính có chứa quy phạm pháp luật, tại Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015[1] (sau đây gọi chung là Luật năm 2015) định nghĩa về văn bản quy phạm pháp luật như sau:
“Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này.
Văn bản có chứa quy phạm, pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật.”
Trong đó, quy phạm pháp luật được hiểu là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và được Nhà nước bảo đảm thực hiện.
2. Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc áp dụng, công khai văn bản quy phạm pháp luật
2.1. Đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan ở trung ương phải được đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước.
Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt phải được đăng Công báo cấp tỉnh.
Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã phải được niêm yết công khai và phải được đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương. Thời gian và địa điểm niêm yết công khai do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải gửi văn bản đến cơ quan Công báo để đăng Công báo hoặc niêm yết công khai.
Cơ quan Công báo có trách nhiệm đăng toàn văn văn bản quy phạm pháp luật trên Công báo chậm nhất là 15 ngày đối với văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan trung ương ban hành, 07 ngày đối với văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban hành kể từ ngày nhận được văn bản.
Văn bản quy phạm pháp luật đăng trên Công báo in và Công báo điện tử là văn bản chính thức và có giá trị như văn bản gốc.
2.2. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật
Thời điểm có hiệu lực của toàn bộ hoặc một phần văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại văn bản đó nhưng không sớm hơn 45 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước trung ương; không sớm hơn 10 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; không sớm hơn 07 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã.
Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì có thể có hiệu lực kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành, đồng thời phải được đăng ngay trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan ban hành và phải được đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng; đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc Công báo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chậm nhất là sau 03 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành.
Chỉ trong trường hợp thật cần thiết để bảo đảm lợi ích chung của xã hội, thực hiện các quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân được quy định trong luật, nghị quyết của Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan trung ương mới được quy định hiệu lực trở về trước.
Không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây:
- Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý;
- Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.
Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt không được quy định hiệu lực trở về trước.
2.3. Ngưng hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong các trường hợp sau đây:
- Bị đình chỉ việc thi hành trong các trường hợp sau:
+ Ủy banthường vụ Quốc hội đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.
+ Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ,Ủy bannhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt trái với Hiến pháp, luật và vănbản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.
+ Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực đề nghị Thủ tướng Chính phủ đình chỉ việc thi hành, bãi bỏvănbản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ khác, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt có nội dung trái pháp luật thuộc ngành, lĩnh vực do mình phụ trách.
+ Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ,Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt có nội dung trái pháp luật không được xử lý theo quy định thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ đình chỉ việc thi hành.
+ Chủ tịchỦy bannhân dân cấp tỉnh đình chỉ việc thi hành nghị quyết trái pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp huyện.
Chủ tịchỦy bannhân dân cấp huyện đình chỉ việc thi hành nghị quyết trái pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp xã.
+ Chủ tịchỦy bannhân dân cấp trên trực tiếp đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật củaỦy bannhân dân cấp dưới.
Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định bãi bỏ thì văn bản hết hiệu lực; nếu không ra quyết định bãi bỏ thì văn bản tiếp tục có hiệu lực;
- Cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật quyết định ngưng hiệu lực của văn bản đó trong một thời hạn nhất định để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội phát sinh.
Thời điểm ngưng hiệu lực, tiếp tục có hiệu lực của văn bản hoặc hết hiệu lực của văn bản phải được quy định rõ tại văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Đồng thời để bảo đảm tính công khai, minh bạch, hạn chế vi phạm pháp luật, quyết định đình chỉ việc thi hành, quyết định xử lý văn bản quy phạm pháp luật phải đăng Công báo, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày ra quyết định.
2.4. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực
Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây:
- Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản;
- Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó;
- Bị bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành, văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực. Đây là quy định mới trong Luật năm 2015 nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và nâng cao trách nhiệm của cơ quan trong việc ban hành văn bản quy định chi tiết.
2.5. Hiệu lực về không gian
a) Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở trung ương có hiệu lực trong phạm vi cả nước và được áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
b) Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ở đơn vị hành chính nào thì có hiệu lực trong phạm vi đơn vị hành chính đó và phải được quy định cụ thể ngay trong văn bản đó.
Trường hợp có sự thay đổi về địa giới hành chính thì hiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng của văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương được xác định như sau:
- Trường hợp một đơn vị hành chính được chia thành nhiều đơn vị hành chính mới cùng cấp thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính được chia vẫn có hiệu lực đối với đơn vị hành chính mới cho đến khi Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính mới ban hành văn bản quy phạm pháp luật thay thế.
Ví dụ: Huyện A được tách thành hai huyện E và F thì văn bản của huyện A có hiệu lực cho đến khi Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện E và F ban hành văn bản mới thay thế.
- Trường hợp nhiều đơn vị hành chính được nhập thành một đơn vị hành chính mới cùng cấp thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính được nhập vẫn có hiệu lực đối với đơn vị hành chính đó cho đến khi Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính mới ban hành văn bản quy phạm pháp luật thay thế.
Ví dụ: Xã A, xã B và xã C được sáp nhập thành xã D thì văn bản của các xã A, B và C vẫn còn có hiệu lực cho đến khi Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân xã D ban hành văn bản mới thay thế.
- Trường hợp một phần địa phận và dân cư của đơn vị hành chính được điều chỉnh về một đơn vị hành chính khác thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính được mở rộng có hiệu lực đối với phần địa phận và bộ phận dân cư được điều chỉnh.
Ví dụ: Xã A thuộc huyện B được sáp nhập vào xã C thuộc huyện D thì văn bản của các xã C có hiệu lực đối với dân cư của xã A. Hoặc ví dụ khác: Thôn K thuộc xã M được sáp nhập vào xã N thì văn bản của xã N có hiệu lực đối với dân cư thôn K của xã M.
2.6. Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật
- Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.
Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.
- Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.
- Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau.
- Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra, trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.
- Việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong nước không được cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp.
2.7. Đăng tải và đưa tin văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ở trung ương, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành phải được đăng tải toàn văn trên cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành và đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng, trừ văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bí mật nhà nước.
Văn bản quy phạm pháp luật đăng tải trên cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật có giá trị sử dụng chính thức.
II. HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật nước ta gồm nhiều chủ thể có thẩm quyền ban hành với nhiều hình thức văn bản quy phạm pháp luật khác nhau.
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp 2013 và các Luật về tổ chức bộ máy (Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức chính quyền địa phương, Luật kiểm toán nhà nước, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam...), Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định rõ các loại văn bản quy phạm pháp luật và nội dung ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành, cụ thể như sau:
1. Hiến pháp
Hiến pháp là đạo luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật; mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp. Hiến pháp quy định những vấn đề cơ bản nhất của quốc gia như hình thức, bản chất nhà nước, chế độ chính trị, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức bộ máy nhà nước, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng…
2. Bộ luật, luật (sau đây gọi chung là luật), nghị quyết của Quốc hội
a) Luật
Quốc hội ban hành luật để quy định:
- Tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;
- Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà theo Hiến pháp phải do luật định, việc hạn chế quyền con người, quyền công dân; tội phạm và hình phạt;
- Chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia, ngân sách nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế;
- Chính sách cơ bản về văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường;
- Quốc phòng, an ninh quốc gia;
- Chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;
- Hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân; hàm, cấp ngoại giao; hàm, cấp nhà nước khác; huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;
- Chính sách cơ bản về đối ngoại;
- Trưng cầu ý dân;
- Cơ chế bảo vệ Hiến pháp;
- Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.
b) Nghị quyết của Quốc hội
Quốc hội ban hành nghị quyết để quy định:
- Tỷ lệ phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương;
- Thực hiện thí điểm một số chính sách mới thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội nhưng chưa có luật điều chỉnh hoặc khác với quy định của luật hiện hành;
- Tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần luật, nghị quyết của Quốc hội đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân;
- Quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia;
- Đại xá;
- Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.
3. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
a) Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh để quy định những vấn đề được Quốc hội giao.
b) Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết để quy định:
- Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh;
- Tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội;
- Bãi bỏ pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; trường hợp bãi bỏ pháp lệnh thì Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm báo cáo Quốc hội tại kỳ hợp gần nhất;
- Tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;
- Hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân;
- Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
c) Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Ủy ban thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành nghị quyết liên tịch để quy định chi tiết những vấn đề được luật giao.
4. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.
Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để quy định:
- Tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương trong trường hợp Ủy ban thường vụ Quốc hội không thể họp được;
- Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước.
5. Nghị định của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
a) Nghị định của Chính phủ
Chính phủ ban hành nghị định để quy định:
- Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;
- Các biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; các biện pháp để thực hiện chính sách kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, chế độ công vụ, cán bộ, công chức, viên chức, quyền, nghĩa vụ của công dân và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền quản lý, điều hành của Chính phủ; những vấn đề liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của từ hai bộ, cơ quan ngang bộ trở lên; nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ;
- Vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh, tế, quản lý xã hội. Trước khi ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
b) Nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành nghị quyết liên tịch để quy định chi tiết những vấn đề được luật giao.
6. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định để quy định:
- Biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, chính quyền địa phương và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ;
- Biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ; kiểm tra hoạt động của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương trong việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
7. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành, nghị quyết để hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử thông qua tổng kết việc áp dụng pháp luật, giám đốc việc xét xử.
8. Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước.
a) Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành thông tư để thực hiện việc quản lý các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự về tổ chức và những vấn đề khác được Luật tổ chức Tòa án nhân dân và luật khác có liên quan giao.
b) Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành thông tư để quy định những vấn đề được Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và luật khác có liên quan giao.
c) Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành thông tư để quy định:
- Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
- Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình.
c) Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành thông tư liên tịch để quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục tố tụng.
d) Quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước
Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành quyết định để quy định chuẩn mực kiểm toán nhà nước, quy trình kiểm toán, hồ sơ kiểm toán.
9. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh).
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành nghị quyết để quy định:
- Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
- Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
- Biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương;
- Biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
10. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định để quy định:
- Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
- Biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp về phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương;
- Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương.
11. Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
Hội đồng nhân dân ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban hành quyết định theo quy định của Luật này và các luật khác có liên quan.
12. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện).
Hội đồng nhân dân cấp huyện ban hành nghị quyết để quy định những vấn đề được luật giao.
13. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao.
14. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã).
Hội đồng nhân dân cấp xã ban hành nghị quyết để quy định những vấn đề được luật giao.
15. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã.
Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao.
Chuyên đề 2
LĨNH VỰC PHÁP LUẬT VỀ DÂN SỰ
MỤC LỤC
Trang
|
A. KIẾN THỨC PHÁP LUẬT……………………………………..
|
18
|
|
I. MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG………………………………….
|
18
|
|
1. Nguyên tắc cơ bản trong quan hệ dân sự…………………………
|
18
|
|
2. Cá nhân………………….. ………………………………………
|
19
|
|
3. Pháp nhân……………………………………………………………..
|
26
|
|
4. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương……………………………………………….
|
27
|
|
5. Hộ gia đình, tổ hợp tác và tổ chức khác không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự……………………………………………………
|
28
|
|
6. Tài sản………………………………………………………………..
|
28
|
|
7. Giao dịch dân sự………………………………………………………
|
30
|
|
8. Đại diện………………………………………………………………
|
35
|
|
9. Thời hạn và thời hiệu…………………………………………………..
|
36
|
|
II. Quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản……………………..
|
36
|
|
1. Nguyên tắc xác lập, thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản...
|
36
|
|
2. Bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản…………………….
|
37
|
|
3. Giới hạn quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản ………………….
|
41
|
|
4. Chiếm hữu………………………………..…………………………..
|
44
|
|
5. Quyền sở hữu………………………………….……………………….
|
45
|
|
6. Quyền khác đối với tài sản……………………………………………..
|
58
|
|
III. Nghĩa vụ và hợp đồng……………………………………………….
|
62
|
|
1. Nghĩa vụ………………………………………………………………
|
62
|
|
2. Hợp đồng……………………………………………………………..
|
79
|
|
3. Một số hợp đồng thông dụng………..………………………………...
|
87
|
|
4. Thực hiện công việc không có ủy quyền………………………………
|
88
|
|
5. Nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật ………………………………………..………
|
89
|
|
6. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng…………………….
|
90
|
|
IV. Thừa kế………………………………………………………………
|
99
|
|
1. Những vấn đề chung về thừa kế……………………………………….
|
100
|
|
2. Thừa kế theo di chúc………………………………………………….
|
103
|
|
3. Thừa kế theo pháp luật………………………………………………..
|
106
|
|
4. Phân chia di sản………………………………………………………
|
108
|
|
B. TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT……………………………………….
|
110
|
|
|
|
A. KIẾN THỨC PHÁP LUẬT
I. MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG
1. Nguyên tắc cơ bản trong quan hệ dân sự
Hệ thống các nguyên tắc cơ bản của các quan hệ dân sự có nhiệm vụ định hướng cho các chủ thể trong việc xác lập và thực hiện các quan hệ dân sự. Theo Điều 3 BLDS 2015, có 05 nguyên tắc cơ bản như sau:
- Thứ nhất, mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản. Các chủ thể hoàn toàn bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý khi tham gia quan hệ dân sự, không phụ thuộc sự khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần tôn giáo, trình độ văn hóa, hoàn cảnh kinh tế…
- Thứ hai, cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng. Trong quan hệ dân sự, các chủ thể phải hoàn toàn tự nguyện, không có sự áp đặt ý chí. Khi thực hiện thỏa thuận, ý chí và yếu tố cam kết tự nguyện đối với các chủ thể luôn được tôn trọng, bảo đảm thực hiện trừ khi những thỏa thuận này vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội.
- Thứ ba, cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực. Lợi ích của các chủ thể chỉ hài hòa khi mỗi bên đều thể hiện tinh thần tích cực, trách nhiệm và uy tín trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Biểu hiện của sự tích cực, trách nhiệm và uy tín chính là cách xử sự thiện chí, trung thực, tạo điều kiện cho các bên trong khi xác lập, thực hiện quan hệ dân sự.
- Thứ tư, việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Để cụ thể hóa nguyên tắc này, Điều 10 BLDS 2015 quy định cá nhân, pháp nhân không được lạm dụng quyền dân sự của mình gây thiệt hại cho người khác, để vi phạm nghĩa vụ của mình hoặc thực hiện mục đích khác trái pháp luật. Trường hợp cá nhân, pháp nhân không tuân thủ quy định trên thì Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác căn cứ vào tính chất, hậu quả của hành vi vi phạm mà có thể không bảo vệ một phần hoặc toàn bộ quyền của họ, buộc bồi thường nếu gây thiệt hại và có thể ápdụng chế tài khác do luật quy định.
- Thứ năm, cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự. Việc thực hiện nghĩa vụ của mỗi chủ thể phụ thuộc vào nội dung đã được thỏa thuận, theo cam kết đơn phương trước đó hoặc theo quy định của pháp luật. Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ dân sự, vì những lí do khác nhau chủ thể có nghĩa vụ không thể hoàn thành nghĩa vụ đúng cam kết, điều này sẽ dẫn tới một hệ quả pháp lý bất lợi cho chính chủ thể vi phạm. Theo đó, bên vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ sẽ phải tự gánh chịu những bất lợi pháp lý dành cho mình, được gọi là trách nhiệm dân sự.
2. Cá nhân
2.1. Năng lực pháp luật dân sự
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết. Về nguyên tắc, mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2.2. Năng lực hành vi dân sự
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân được xác định theo các mức độ khác nhau căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của cá nhân đó.
Theo đó, người thành niên (người từ đủ mười tám tuổi trở lên) có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Những người này được quyền tự mình thực hiện các giao dịch dân sự và tự mình gánh chịu các nghĩa vụ dân sự.
Người chưa thành niên (người chưa đủ mười tám tuổi) có các mức độ năng lực hành vi dân sự khác nhau như sau:
Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.
Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.
Người mất năng lực hành vi dân sự là người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không nhận thức, làm chủ được hành vi, theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần. Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.
Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự, theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
Người hạn chế năng lực hành vi dân sự là người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình, theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện. Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác.
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố cá nhân mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
2.3. Quyền nhân thân
Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.
Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được người đại diện theo pháp luật của người này đồng ý theo quy định của Bộ luật dân sự, luật khác có liên quan hoặc theo quyết định của Tòa án.
Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết phải được sự đồng ý của vợ, chồng hoặc con thành niên của người đó; trường hợp không có những người này thì phải được sự đồng ý của cha, mẹ của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết, trừ trường hợp Bộ luật dân sự, luật khác có liên quan quy định khác.
Quyền nhân thân của cá nhân là các quyền như quyền đối với họ, tên; quyền thay đổi họ; quyền thay đổi tên; quyền xác định, xác định lại dân tộc; quyền được khai sinh, khai tử; quyền đối với quốc tịch; quyền của cá nhân đối với hình ảnh; quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể; quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác; quyền xác định lại giới tính; chuyển đổi giới tính; quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình… Ngoài quy định trong BLDS 2015, quyền nhân thân còn được quy định trong các luật khác.
2.4. Nơi cư trú
Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống.
Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống. Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha, mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.
Nơi cư trú của người được giám hộ là nơi cư trú của người giám hộ. Người được giám hộ có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của người giám hộ nếu được người giám hộ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.
Nơi cư trú của vợ, chồng là nơi vợ, chồng thường xuyên chung sống. Vợ, chồng có thể có nơi cư trú khác nhau nếu có thỏa thuận.
Nơi cư trú của quân nhân đang thực hiện nghĩa vụ quân sự là nơi đơn vị của quân nhân đó đóng quân. Nơi cư trú của sĩ quan quân đội, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng là nơi đơn vị của người đó đóng quân, trừ trường hợp họ có nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.
Người làm nghề lưu động trên tàu, thuyền, phương tiện hành nghề lưu động khác chưa có nơi cư trú của cá nhân thì nơi cư trú của họ là nơi đăng ký tàu, thuyền, phương tiện nơi họ hành nghề lưu động đó.
2.5. Giám hộ
Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được lựa chọn làm người giám hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 48 của BLDS 2015[2] (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ).
Để chế độ giám hộ cho người chưa thành niên, người đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi linh hoạt, khả thi hơn và để thực hiện, bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích của người được giám hộ, pháp luật quy định như sau:
- Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền lựa chọn người giám hộ cho mình khi họ ở tình trạng cần được giám hộ;
- Việc cử, chỉ định người giám hộ cho người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người này;
- Pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám hộ và có điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ thì được làm người giám hộ;
- Việc giám hộ đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được thực hiện theo các nguyên tắc: (i) Việc giám hộ phải được sự đồng ý của người đó nếu họ có năng lực thể hiện ý chí của mình tại thời điểm yêu cầu; (ii) Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi do Tòa án chỉ định theo sự lựa chọn của người được giám hộ trước khi họ ở tình trạng cần được giám hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 48 của BLDS 2015, trường hợp không có người này thì Tòa án chỉ định trong số những người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự, nếu không có những người trên thì Tòa án chỉ định một cá nhân hoặc đề nghị một pháp nhân thực hiện việc giám hộ; (iii) Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có quyền, nghĩa vụ theo quyết định của Tòa án trong số các quyền, nghĩa vụ của người giám hộ cho người mất năng lực hành vi dân sự;
- Người thân thích của người được giám hộ có quyền thỏa thuận về việc chọn cá nhân, pháp nhân khác không phải là người thân thích của người được giám hộ làm người giám sát việc giám hộ;
- Việc giám hộ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về hộ tịch (kể cả giám hộ đương nhiên); người giám hộ đương nhiên mà không đăng ký việc giám hộ thì vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của người giám hộ. Trường hợp có tranh chấp về giám hộ thì được giải quyết theo thủ tục tố tụng tại Tòa án.
Có hai loại giám hộ:
Một là, người giám hộ đương nhiên:
+ Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ; có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ, được xác định theo thứ tự sau đây:
(i) Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ.
(ii) Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều này thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ.
(iii) Trường hợp không có người giám hộ quy định tại điểm (i), (ii) nêu trên thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.
+ Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định như sau:
(i) Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.
(ii) Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ.
(iii) Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.
Thứ hai, người giám hộ do được cử, chỉ định:
Trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ.
Trường hợp có tranh chấp giữa những người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự và người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án chỉ định người giám hộ.
Trường hợp cử, chỉ định người giám hộ cho người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người này.
Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi do Tòa án chỉ định trong số những người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự. Trường hợp không có người giám hộ theo quy định trên, Tòa án chỉ định người giám hộ hoặc đề nghị một pháp nhân thực hiện việc giám hộ.
2.5.Tuyên bố mất tích
Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích ly hôn thì tài sản của người mất tích được giao cho con thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lý; nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản.
Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích đối với người đó. Người bị tuyên bố mất tích trở về được nhận lại tài sản do người quản lý tài sản chuyển giao sau khi đã thanh toán chi phí quản lý. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích đã được ly hôn thì dù người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống, quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật.
2.6. Tuyên bố chết
Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:
+ Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
+ Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
+ Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
+ Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống.
Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết. Quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết được khôi phục khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết, trừ trường hợp sau đây:
+ Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã được Tòa án cho ly hôn theo quy định thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật;
+ Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã kết hôn với người khác thì việc kết hôn đó vẫn có hiệu lực pháp luật.
Người bị tuyên bố là đã chết mà còn sống có quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn. Trường hợp người thừa kế của người bị tuyên bố là đã chết biết người này còn sống mà cố tình giấu giếm nhằm hưởng thừa kế thì người đó phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã nhận, kể cả hoa lợi, lợi tức; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng được giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình.
3. Pháp nhân
Pháp nhân là một chủ thể được thành lập, hoạt động và chấm dứt theo quy định của pháp luật. Về nguyên tắc, mọi cá nhân, pháp nhân đều có quyền thành lập pháp nhân, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3.1. Về điều kiện công nhận pháp nhân:
Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Được thành lập theo quy định của Bộ luật dân sự, luật khác có liên quan;
- Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật dân sự;
- Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;
- Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Việc thành lập của pháp nhân là hợp pháp khi pháp nhân đó được thành lập dựa trên những trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định hoặc được pháp luật thừa nhận dựa trên những tiêu chí đã đặt ra. Cơ cấu tổ chức chặt chẽ của pháp nhân thể hiện qua nội dung hoạt động của pháp nhân, sự phối kết hợp của mỗi bộ phận nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ chung cũng như quy mô, phạm vi và lĩnh vực hoạt động của pháp nhân đó. Tài sản riêng, độc lập của pháp nhân nhằm đảm bảo cho việc pháp nhân đó gánh vác nghĩa vụ của chính pháp nhân khi tham gia vào các giao dịch dân sự. Tính độc lập về tài sản của pháp nhân được thể hiện đó là khối tài sản mà thuộc sở hữu của pháp nhân, hoàn toàn tách biệt với tài sản của mỗi cá nhân trong pháp nhân. Pháp nhân hoàn toàn tự mình quyết định trong việc tham gia vào các quan hệ pháp luật tương ứng với loại hình pháp nhân của mình cũng như hưởng quyền và gánh chịu các nghĩa vụ.
3.2. Phân loại pháp nhân
Do đặc thù pháp nhân có tính chất đa dạng, nên căn cứ vào mục đích thành lập, hoạt động của pháp nhân, pháp nhân được chia thành 02 loại cơ bản:
- Pháp nhân thương mại: Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.
Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác - có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.
- Pháp nhân phi thương mại: Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên.
Pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác - không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận, nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên.
3.3. Dấu hiệu cơ bản của pháp nhân
Pháp nhân là một tổ chức được thành lập bởi sự liên kết của cá nhân vì thế pháp nhân chỉ có thể thực hiện các hành vi của mình trong quan hệ dân sự mà pháp nhân tham gia thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của pháp nhân. Đại diện theo pháp luật của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân. Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân. Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự về nghĩa vụ do sáng lập viên hoặc đại diện của sáng lập viên xác lập, thực hiện để thành lập, đăng ký pháp nhân, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự về nghĩa vụ do sáng lập viên hoặc đại diện của sáng lập viên xác lập, thực hiện để thành lập, đăng ký pháp nhân, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Người của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện, trừ trường hợp luật có quy định khác.
4. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương
Để cụ thể hóa nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ dân sự, pháp luật quy định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương khi tham gia quan hệ dân sự thì bình đẳng với các chủ thể khác và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.
5. Hộ gia đình, tổ hợp tác và tổ chức khác không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự
Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết.
Trường hợp thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự không được các thành viên khác ủy quyền làm người đại diện thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ dân sự do mình xác lập, thực hiện.
Việc xác định chủ thể của quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng đất được thực hiện theo quy định của Luật đất đai.
6. Tài sản
Tài sản vừa là đối tượng vừa là khách thể của quyền sở hữu.Vì xét về bản chất, tài sản là những gì mà các chủ thể trong quan hệ sở hữu hướng tới khi tham gia vào quan hệ đó.Chủ sở hữu quyền hướng tới, đồng thời tác động vào tài sản để nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Người mang nghĩa vụ cũng hướng tới tài sản khi thực hiện việc tôn trọng quyền năng sở hữu của chủ sở hữu khi tham gia quan hệ sở hữu – việc tham gia quan hệ sở hữu này dường như mang tính bắt buộc vì yếu tố trật tự an toàn xã hội, tôn trọng quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 105 BLDS 2015, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
Sự ghi nhận tài sản là vật xuất phát từ những văn bản luật đầu tiên thời kỳ La Mã khi họ cho rằng tài sản chỉ có thể là vật – những thứ tồn tại hữu hình con người có thể cảm giác bằng các giác quan của mình. Cho đến thời điểm hiện nay, vật khi xem xét là một loại tài sản nó vẫn được hiểu là một bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại hữu hình, mang lại cho con người những giá trị lợi ích nhất định. Khi tài sản tồn tại dưới dạng vật nó phải mang lại giá trị lợi ích cho con người và luôn gắn liền với quá trình chiếm hữu cũng như chuyển giao cho nhau. Điều đó có nghĩa rằng, vật phải chiếm hữu được, với chủ thể nào cũng có giá trị lợi ích nhất định.
Xét về bản chất, tiền cũng là vật nhưng điểm đặc biệt của nó là vật ngang giá chung được sử dụng làm thước đo giá trị của các loại tài sản. Trước đây, khi BLDS năm 1995 ban hành, tiền được quy định chỉ là Việt Nam đồng nhưng đến BLDS năm 2005, tiền được hiểu là Việt Nam đồng và ngoại tệ. Quy định này tạo được sự phù hợp hơn ở góc độ thực tiễn và pháp luật chuyên ngành đã ban hành trước và sau đó.
Pháp luật Việt Nam coi tiền là một loại tài sản độc lập trong bốn loại tài sản được liệt kê tại Điều 105 BLDS năm 2015. Tuy vậy, trải qua các thời kỳ kinh tế, mỗi quốc gia phát hành những loại tiền khác nhau nhằm đảm bảo chính sách về kinh tế, chính trị… Thực tế, những loại tiền đó vẫn được coi là tiền về cách gọi thông thường nhưng dưới góc độ pháp lý nó tồn tại dưới dạng vật. Vì, khi tài sản tồn tại dưới dạng tiền sẽ phải thỏa mãn hai thuộc tính: Có giá trị lưu hành và do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phát hành.
Trong quá trình khai thác thế giới tự nhiên, con người nhận ra rằng tài sản không đơn thuần là những thứ thuộc về tự nhiên, do thế giới khách quan mang lại mà chúng ta thường gọi là vật hay tài sản hữu hình. Mà bằng sức sáng tạo của con người, những tư duy mang tính logic, tính phù hợp giữa đời sống xã hội và pháp lý chúng ta có thể tạo ra những của cải vật chất khác dựa trên tiền đề của những tài sản hữu hình đó là tài sản vô hình, chúng ta không thể cảm nhận được bằng các giác quan nhưng nó vẫn mang lại cho con người những giá trị lợi ích vật chất to lớn. Tuy nhiên, BLDS năm 2015 không quy định khái niệm giấy tờ có giá, cũng không quy định khái niệm quyền tài sản, quyền tài sản bao gồm những loại quyền năng nào.
Để bảo đảm tính khái quát, dự báo và minh bạch về tài sản, pháp luật quy định rõ như sau:
- Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai (Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch; tài sản hình thành trong tương lai bao gồm tài sản chưa hình thành và tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch);
- Quyền sử dụng đất là một quyền tài sản;
- Trường hợp quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản được đăng ký thì việc đăng ký phải được công khai.
7. Giao dịch dân sự
Trong đời sống xã hội, để tồn tại, phát triển, sản suất, kinh doanh, các cá nhân hoặc pháp nhân thường xuyên phải xác lập với nhau những quan hệ dân sự nhất định nhằm trao đổi các lợi ích. Để cho các quan hệ dân sự này tồn tại và phát triển một cách ổn định theo ý chí nhà nước, nhà nước đã trao cho cá nhân, tổ chức một phương tiện pháp lý vô cùng quan trọng và hữu hiệu giúp cho họ thuận lợi hơn trong việc xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau đó chính là “giao dịch dân sự”. Theo Điều 116 BLDS 2015, thì giao dịch dân sựlà hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
- Giao dịch dân sự là hợp đồng:
Hợp đồng được quy định tại Điều 385 BLDS 2015: "Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Ví dụ: hành vi mua một chai nước ngọt, một cái bánh đó là các hợp đồng cụ thể - hợp đồng mua bán tài sản; ông A thuê con trâu của ông B về cày ruộng cũng là một hợp đồng (hợp đồng thuê tài sản)...
- Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương:
Về mặt định nghĩa "Hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch dân sự thể hiện ý chí của một bên chủ thể nhằm pháp sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự". Theo quy định của pháp luật dân sự có các loại hành vi pháp lý đơn phương sau: hứa thưởng, thi có giải và lập di chúc. Ví dụ: C hứa sẽ thưởng cho ai tìm được con chó bị mất của mình 10 triệu đồng – đây là một dạng của hành vi pháp lý đơn phương. Ví dụ khác, trước khi chết ông E lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho các con sau khi chết – cũng là một hành vi pháp lý đơn phương theo quy định của pháp luật dân sự.
7.1. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Theo quy định tại Điều 117 BLDS 2015, giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập.
Thứ hai, chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện.
Bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa ý chí và sự bày tỏ ý chí. Tự nguyện ở đây bao gồm 2 yếu tố cấu thành đó là tự do ý chí và bày tỏ ý chí, chính vì vậy nếu không có sự tự do ý chí và bày tỏ ý chí sẽ được coi là không có sự tự nguyện. Giao dịch dân sự không có sự tự nguyện về nguyên tắc không làm phát sinh hậu quả pháp lý từ thời điểm giao kết.
Thứ ba, mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Mục đích của giao dịch là những lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó.
Nội dung của giao dịch là tổng hợp các điều khoản mà các bên đã cam kết, thỏa thuận trong giao dịch. Những điều khoản này xác định quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh từ giao dịch.
Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể được thực hiện những hành vi nhất định.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong xã hội được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.
Ngoài ra, hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.
7.2. Hình thức giao dịch dân sự
Hình thức của giao dịch là phương tiện thể hiện nội dung của giao dịch, thông qua phương tiện này chủ thể bên kia và người thứ 3 có thể biết được nội dung giao dịch. Về nguyên tắc, hình thức chỉ là điều kiện khi pháp luật có quy định.
Điều 119 BLDS 2015 quy định giao dịch dân sự có thể được thể hiện dưới 3 hình thức: thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Về nguyên tắc, các chủ thể có quyền lựa chọn hình thức của giao dịch khi pháp luật không bắt buộc.
Giao dịch bằng lời nói là hình thức phổ biến trong xã hội, có mức độ xác thực thấp nên thường được áp dụng cho các giao dịch thực hiện ngay và chấm dứt ngay sau đó hoặc giữa những người có quan hệ thân quen. Trong một số điều kiện nhất định giao dịch dân sự thể hiện dưới hình thức miệng phải tuân theo điều kiện nhất định do pháp luật quy định như trường hợp lập di chúc miệng[3].
Giao dịch bằng văn bản bao gồm: văn bản thường và văn bản có công chứng, chứng thực hoặc văn bản phải đăng ký. Hình thức bằng văn bản có giá trị xác thực cao hơn, là chứng cứ hữu hiệu khi phát sinh tranh chấp. Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.
Giao dịch bằng hành vi: pháp luật dân sự thừa nhận giao dịch dân sự có thể được xác lập thông qua hành vi theo quy ước định trước. Ví dụ, mua nước ngọt tự động, rút tiền tự động…
Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó. Ví dụ, hợp đồng mua bán nhà, pháp luật yêu cầu phải thực hiện bằng văn bản phải công chứng hoặc chứng thực. Trong một số trường hợp pháp luật còn yêu cầu giao dịch dân sự phải đăng ký thì thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký mới là thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng. Ví dụ, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng trồng hay thế chấp một tài sản để đảm bảo thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự.
7.3. Giao dịch dân sự vô hiệu
Pháp luật đã quy định cụ thể bốn điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì vô hiệu, trừ trường hợp luật có quy định khác.
a) Các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu:
BLDS 2015 quy định 7 trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu bao gồm:
(1) Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội (Điều 123);
(2) Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo (Điều 124). Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo gồm 2 loại: được xác lập một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác hoặc được xác lập nhằm trốn tránh nghĩa vụ đới với người thứ ba.
(3) Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 125);
(4) Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 126).
(5) Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép (Điều 127).
(6) Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Điều 128).
(7) Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 129).
Tuy nhiên, trên cơ sở tôn trọng thực tế thực hiện giao dịch và ý chí đích thực của chủ thể trong giao dịch, bảo đảm sự ổn định của giao dịch dân sự, các quan hệ liên quan và hạn chế sự không thiện chí của một bên trong việc lợi dụng việc không tuân thủ quy định về hình thức để không thực hiện cam kết của mình, pháp luật quy định các ngoại lệ để Tòa án công nhận giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức theo yêu cầu của một bên hoặc các bên trong giao dịch gồm:
- Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
- Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.
b) Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện; do bị nhầm lẫn; do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; do không tuân thủ quy định về hình thức là 02 năm, kể từ ngày:
- Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;
- Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;
- Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép;
- Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch;
- Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức.
Đối với giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội; do giả tạo thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.
c) Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:
Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.
Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.
Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật dân sự, luật khác có liên quan quy định.
d) Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu
- Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 167 của Bộ luật dân sự; cụ thể là chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.
- Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.
Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.
- Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.
8. Đại diện
Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích cá nhân hoặc pháp nhân khác (gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
Để quy định về đại diện bảo đảm phù hợp hơn với thực tiễn giao lưu dân sự; phát huy cao nhất vai trò, trách nhiệm của người đại diện; quyền, lợi ích của người được đại diện và người thứ ba, pháp luật quy định như sau:
- Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện; theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật;
- Người đại diện theo pháp luật của cá nhân, pháp nhân có thể do Tòa án chỉ định;
- Pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định về thời hạn đại diện, phạm vi đại diện tại BLDS;
- Người đại diện theo ủy quyền có thể là pháp nhân;
- Người đại diện có quyền xác lập, thực hiện hành vi cần thiết để đạt được mục đích của việc đại diện;
- Trường hợp không xác định được cụ thể phạm vi đại diện thì người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
- Trường hợp không xác định được thời hạn đại diện thì thời hạn đại diện được xác định theo nguyên tắc: (1) Nếu quyền đại diện được xác định theo giao dịch dân sự cụ thể thì thời hạn đại diện được tính đến thời điểm chấm dứt giao dịch dân sự đó; (2) Nếu quyền đại diện không được xác định với giao dịch dân sự cụ thể thì thời hạn đại diện là 01 năm, kể từ thời điểm phát sinh quyền đại diện;
- Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện xác lập, thực hiện vẫn làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện nếu người này đã công nhận giao dịch hoặc đã biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý hoặc người này có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện.
9. Thời hạn và thời hiệu
Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác và được xác định bằng phút, giờ, ngày, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể xảy ra.
Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định.
Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật dân sự, luật khác có liên quan. Tòa án không được tự mình áp dụng thời hiệu nếu không có yêu cầu của một bên hoặc các bên trong quan hệ dân sự; trường hợp một và các bên trong quan hệ dân sự có yêu cầu về việc áp dụng thời hiệu thì yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc; người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.
II. QUYỀN SỞ HỮU VÀ CÁC QUYỀN KHÁC ĐỐI VỚI TÀI SẢN
1. Nguyên tắc xác lập, thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản
BLDS 2015 quy định về mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản, về thực hiện quyền và thời điểm chuyển quyền như sau:
- Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản được xác lập, thực hiện trong trường hợp BLDS, luật khác có liên quan quy định; quyền khác đối với tài sản vẫn có hiệu lực trong trường hợp quyền sở hữu được chuyển giao, trừ trường hợp BLDS, luật khác có liên quan quy định khác;
- Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; chủ thể có quyền khác đối với tài sản được thực hiện mọi hành vi trong phạm vi quyền được quy định tại BLDS, luật khác có liên quan nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản hoặc của người khác; chủ thể có quyền khác đối với tài sản cũng phải chịu rủi ro về tài sản trong phạm vi quyền của mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác với chủ sở hữu tài sản hoặc BLDS, luật khác có liên quan quy định khác;
- Thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thực hiện theo quy định của BLDS, luật khác có liên quan; trường hợp luật không có quy định thì thực hiện theo thỏa thuận của các bên; trường hợp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là thời điểm tài sản được chuyển giao.
Thời điểm tài sản được chuyển giao là thời điểm bên có quyền hoặc người đại diện hợp pháp của họ chiếm hữu tài sản. Trường hợp tài sản chưa được chuyển giao mà phát sinh hoa lợi, lợi tức thì hoa lợi, lợi tức thuộc về bên có tài sản chuyển giao, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản
Bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản được hiểu là “những biện pháp tác động bằng pháp luật đối với hành vi xử sự của con người qua đó đảm bảo cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu của mình”[4]. Hệ thống pháp luật của Việt Nam không chỉ dành chức năng bảo vệ quyền sở hữu cho riêng chuyên ngành Luật dân sự, việc bảo vệ quyền sở hữu còn là nhiệm vụ và đối tượng điều chỉnh của các ngành luật mang tính chất “công quyền”:
- Luật hành chính bảo vệ quyền sở hữu bằng cách quy định trình tự, thủ tục nhằm quản lý và bảo vệ tài sản của Nhà nước, các tổ chức, cá nhân. Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu được ngành Luật này điều chỉnh bằng việc xây dựng các quy phạm chứa đựng các bộ phận chế tài như: thu hồi tài sản, xử phạt vi phạm hành chính. Ví dụ: Một sinh viên trộm cắp của bạn 500.000 đồng và bị phát hiện. Hội đồng kỷ luật của Nhà trường đã xét và người có thẩm quyền đã ra quyết định cảnh cáo toàn trường.
- Luật hình sự bảo vệ quyền sở hữu bằng cách quy định các dấu hiệu cấu thành tội phạm trong nhóm các tội danh xâm phạm quyền sở hữu và khung hình phạt tương ứng. Dựa vào đó, có thể biết hành vi nào được coi là tội phạm và người thực hiện hành vi đó phải chịu mức hình phạt nào. Ví dụ: Hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác có trị giá từ hai triệu trở lên thì có thể sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
Luật dân sự quy định chủ sở hữu, chủ thể khác đối với tài sản có thể thực hiện các phương thức bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bằng các biện pháp sau đây:
Một là, có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật.
Hai là, có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
- Quyền đòi lại tài sản:
Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó.
+ Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình: Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản Trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu. Ví dụ: A cho B mượn xe đạp, B bán cho C, lúc này C không biết B không phải chủ sở hữu thực sự của chiếc xe, C không phải trả lại xe cho A.
+ Quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình: Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 133 BLDS 2015, đó là các trường hợp:
(i) Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.
(ii) Trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.
Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại hai trường hợp nêu trên nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.
Ví dụ: A và B là vợ chồng, trong thời gian A xuất khẩu lao động và bị thất lạc, B yêu cầu Tòa án cho ly hôn, trong quyết định của Tòa, B là chủ sở hữu ngôi nhà trước đây hai vợ chồng chung sống (thực chất ngôi nhà là tài sản riêng của A). Sau khi có quyết định của Tòa, B bán ngôi nhà cho C; khi quay trở về A kháng cáo, Tòa hủy quyết định chia tài sản trước đó, nhưng A không kiện đòi C mà phải kiện yêu cầu B bồi thường thiệt hại.
- Quyền yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản:
Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, chủ thể có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó hoặc có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm.
Điều kiện áp dụng phương thức này bao gồm:
Điều kiện thứ nhất, hành vi cản trở việc thức hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp vẫn đang diễn ra.
Điều kiện thứ hai, hành vi cản trở phải là hành vi trái pháp luật.
Điều kiện thứ ba, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không thể hoặc gặp khó khăn trong việc thực hiện quyền năng của mình đối với tài sản do có hành vi cản trở trái pháp luật. Ví dụ: A và B là hàng xóm, do xích mích, B dùng hàng dào cấm xe chở nguyên vật liệu A thuê để xây nhà đi qua cổng nhà B.
- Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại:
Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bồi thường thiệt hại.
Trong trường hợp tài sản không còn do bị tiêu hủy, bị mất hoàn toàn giá trị; chủ sở hữu không thể xác định được tài sản đang nằm trong sự chiếm hữu của ai hoặc thuộc vào trường hợp người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình không phải trả lại tài sản thì chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp chỉ có thể lựa chọn phương thức kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. Phương thức này có mục đích buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu phải bù đắp tổn thất, khắc phục giá trị tài sản cho chủ sử hữu, người chiếm hữu hợp pháp có tài sản bị xâm phạm. Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp khi áp dụng phương thức này phải cung cấp chứng cứ thỏa mãn bốn điều kiện sau:
Điều kiện thứ nhất, phải có thiệt hại xảy ra: Đây là điều kiện cần, điều kiện tiên quyết và buộc phải có trước, chỉ khi tài sản bị thiệt hại (bị giảm sút giá trị, bị hủy hoại…) thì mới đặt ra yêu cầu cần khôi phục giá trị đã mất. Ví dụ: B trộm xe máy của A trong quá trình chiếm hữu bất hợp pháp B gây tai nạn khiến xe của A bị hư hại hoàn toàn.
Điều kiện thứ hai, có hành vi xâm phạm quyền trái pháp luật : là những hành vi vi phạm quy định của pháp luật, không tôn trọng quyền sở hữu tài sản của người khác ví dụ như: trộm, cướp, đập phá tài sản không phải của mình... Nếu như hành vi gây thiệt hại cho tài sản của người khác là yêu cầu nhiệm vụ, công vụ hoặc gây thiệt hại phù hợp giới hạn của phòng vệ chính đáng, trong yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại không phải bồi thường. Ví dụ: Cảnh sát trong quá trình truy bắt băng đảng tội phạm làm hỏng xe của người đi đường; bác sỹ cắt bỏ trang phục của người bệnh bị tai nạn lao động khi phẫu thuật cho người này; cảnh sát phòng cháy chữa cháy làm hỏng ti vi của chủ nhà trong quá trình phun nước dập lửa đám cháy…
Điều kiện thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi xâm phạm quyền sở hữu trái pháp luật: Mối quan hệ nhân quả được hiểu, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trái pháp luật phải là nguyên nhân, xuất hiện trước làm phát sinh thiệt hại đối với tài sản, không có hành vi sẽ không có thiệt hại. Thiệt hại là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật. Nếu thiệt hại không do hành vi trái pháp luật gây ra thì người có hành vi trái pháp luật đó không phải bồi thường. Ví dụ: A thù B cài mìn vào xe B nhằm phá hủy chiếc xe, nhưng mìn kém chất lượng không nổ, xe của B dò xăng do lỗi kỹ thuật sản xuất làm xe cháy và hư hoại hoàn toàn trường hợp này A không phải bồi thường cho B.
Điều kiện thứ tư, phải có lỗi: Lỗi là trạng thái tâm lý của người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại. Nếu gây thiệt hại trong trường hợp bất khả kháng hoặc lỗi hoàn toàn thuộc về người bị thiệt hại thì người gây ra thiệt hại sẽ không phải bồi thường. Ví dụ: A đang lưu thông trên đường tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật giao thông, B lùa đàn vịt của mình qua đường quốc lộ khiến A không kịp tránh đâm chết 5 con vịt của B. Trường hợp này A không phải bồi thường do lỗi hoàn toàn thuộc về B.
Trường hợp tài sản bị thiệt hại không do hành vi trái pháp luật của con người mà do sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật của tài sản thì cần phải chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và sự tác động của tài sản gây thiệt hại. Ví dụ: A và B thù nhau biết nhà A nuôi gà, nhà B thả chó, chó nhà B cắn chết gà nhà A. B phải bồi thường thiệt hại cho A.
Sau khi thỏa mãn các điều kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại thì chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp tài sản có thể nhận được mức bồi thường phù hợp theo quy định.
3. Giới hạn quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản
3.1. Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản trong trường hợp xảy ra tình thế cấp thiết (Điều 171 BLDS 2015)
Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa trực tiếp lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn.
Trong tình thế cấp thiết, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản không được cản trở người khác dùng tài sản của mình hoặc cản trở người khác gây thiệt hại đối với tài sản đó để ngăn chặn, làm giảm mối nguy hiểm hoặc thiệt hại lớn hơn có nguy cơ xảy ra.
Gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản bị thiệt hại trong tình thế cấp thiết được bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 595 của Bộ luật dân sự.
3.2. Nghĩa vụ bảo vệ tài nguyên môi trường; tôn trọng, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội (Điều 172, 173 BLDS 2015)
Điều 160 BLDS 2015 quy định nguyên tắc chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; chủ thể có quyền khác đối với tài sản được thực hiện mọi hành vi trong phạm vi quyền được quy định tại Bộ luật này, luật khác có liên quan nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản hoặc của người khác
Vì vậy, khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, chủ sở hữu, chủ thế có quyền khác đối với tài sản phải tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; đảm bảo các quy định về trật tự, an toàn xã hội.
3.3. Nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng, ranh giới giữa các bất động sản, mốc giới ngăn cách các bất động sản, bảo đảm an toàn trong trường hợp cây cối, công trình có nguy cơ gây thiệt hại, trổ cửa nhìn sang bất động sản liền kề
- Nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng: Khi xây dựng công trình, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải tuân theo pháp luật về xây dựng, bảo đảm an toàn, không được xây vượt quá độ cao, khoảng cách mà pháp luật về xây dựng quy định và không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản là bất động sản liền kề và xung quanh.
- Ranh giới giữa các bất động sản: Việc sử dụng của các chủ sở hữu bất động sản liền kề nhau hiện nay thường phát sinh những tranh chấp liên quan đến ranh giới[5]. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp.
Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung.
Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác.
Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Mốc giới ngăn cách các bất động sản: Chủ sở hữu bất động sản chỉ được dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mình.
Các chủ sở hữu bất động sản liền kề có thể thỏa thuận với nhau về việc dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên ranh giới để làm mốc giới ngăn cách giữa các bất động sản; những vật mốc giới này là sở hữu chung của các chủ thể đó.
Trường hợp mốc giới ngăn cách chỉ do một bên tạo nên trên ranh giới và được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý thì mốc giới ngăn cách đó là sở hữu chung, chi phí để xây dựng do bên tạo nên chịu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; nếu chủ sở hữu bất động sản liền kề không đồng ý mà có lý do chính đáng thì chủ sở hữu đã dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn phải dỡ bỏ.
Đối với mốc giới là tường nhà chung, chủ sở hữu bất động sản liền kề không được trổ cửa sổ, lỗ thông khí hoặc đục tường để đặt kết cấu xây dựng, trừ trường hợp được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý.
Trường hợp nhà xây riêng biệt nhưng tường sát liền nhau thì chủ sở hữu cũng chỉ được đục tường, đặt kết cấu xây dựng đến giới hạn ngăn cách tường của mình.
Đối với cây là mốc giới chung, các bên đều có nghĩa vụ bảo vệ; hoa lợi thu được từ cây được chia đều, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Bảo đảm an toàn trong trường hợp cây cối, công trình có nguy cơ gây thiệt hại: Trường hợp cây cối, công trình xây dựng có nguy cơ sập đổ xuống bất động sản liền kề và xung quanh thì chủ sở hữu tài sản thực hiện ngay các biện pháp khắc phục, chặt cây, sửa chữa hoặc dỡ bỏ công trình xây dựng đó theo yêu cầu của chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nếu không tự nguyện thực hiện thì chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho chặt cây, phá dỡ. Chi phí chặt cây, phá dỡ do chủ sở hữu cây cối, công trình xây dựng chịu.
Khi đào giếng, đào ao hoặc xây dựng công trình dưới mặt đất, chủ sở hữu công trình phải đào, xây cách mốc giới một khoảng cách do pháp luật về xây dựng quy định.
Khi xây dựng công trình vệ sinh, kho chứa chất độc hại và các công trình khác mà việc sử dụng có khả năng gây ô nhiễm môi trường thì chủ sở hữu tài sản đó phải xây cách mốc giới một khoảng cách và ở vị trí hợp lý, phải bảo đảm vệ sinh, an toàn và không làm ảnh hưởng đến chủ sở hữu bất động sản khác.
Trường hợp gây thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh thì chủ sở hữu cây cối, công trình phải bồi thường.
- Trổ cửa nhìn sang bất động sản liền kề: Chủ sở hữu nhà chỉ được trổ cửa ra vào, cửa sổ quay sang nhà bên cạnh, nhà đối diện và đường đi chung theo quy định của pháp luật về xây dựng. Mặt dưới mái che trên cửa ra vào, mặt dưới mái che cửa sổ quay ra đường đi chung phải cách mặt đất từ 2,5 mét trở lên.
4. Chiếm hữu
Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản. Trong đó, nắm giữ là thuật ngữ pháp lý chỉ trạng thái của chủ thể có thể giữ, tác động được lên vật trong phạm vi kiểm soát của mình. Việc nắm giữ vật không chỉ tồn tại ở hình thái trực tiếp (giữ, tác động bằng các giác quan) mà còn có thể là gián tiếp thông qua việc kiểm soát sự tồn tại của nó (cất giữ). Không phải nắm giữ được tài sản là người đó có quyền năng này mà loại quyền này ghi nhận cho những chủ thể nhất định đã được pháp luật quy định.
Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu.
- Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.
- Chiếm hữu không ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu biết hoặc phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.
- Chiếm hữu liên tục là việc chiếm hữu được thực hiện trong một khoảng thời gian mà không có tranh chấp về quyền đối với tài sản đó hoặc có tranh chấp nhưng chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, kể cả khi tài sản được giao cho người khác chiếm hữu.
- Chiếm hữu công khai là việc chiếm hữu được thực hiện một cách minh bạch, không giấu giếm; tài sản đang chiếm hữu được sử dụng theo tính năng, công dụng và được người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình.
Việc chiếm hữu không liên tục, không công khai không được coi là căn cứ để suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu.
- Suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu:
Người chiếm hữu được suy đoán là ngay tình; người nào cho rằng người chiếm hữu không ngay tình thì phải chứng minh.
Trường hợp có tranh chấp về quyền đối với tài sản thì người chiếm hữu được suy đoán là người có quyền đó. Người có tranh chấp với người chiếm hữu phải chứng minh về việc người chiếm hữu không có quyền.
Người chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai được áp dụng thời hiệu hưởng quyền và được hưởng hoa lợi, lợi tức mà tài sản mang lại theo quy định của Bộ luật dân sự và luật khác có liên quan.
Việc suy đoán người đang chiếm hữu là người có quyền lợi hợp pháp có ý nghĩa rất quan trọng vì một mặt, đây là sự công nhận người chiếm hữu có những quyền pháp lý nhất định; mặt khác, có tác động trực tiếp đến người thứ ba: người thứ ba mua vật một cách ngay tình từ người chiếm hữu thì được công nhận ngay là người có quyền sở hữu vật, dù người chiếm hữu không phải là người có quyền định đoạt vật, trừ một số ngoại lệ (ví dụ, đó là vật bị lấy cắp, bị mất).
- Bảo vệ việc chiếm hữu: Trường hợp việc chiếm hữu bị người khác xâm phạm thì người chiếm hữu có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi, khôi phục tình trạng ban đầu, trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi, khôi phục tình trạng ban đầu, trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại. Việc bảo vệ người chiếm hữu có tác dụng bảo đảm sự ổn định trong xã hội, không cho phép cá nhân sử dụng vũ lực với nhau để giải quyết tranh chấp về tài sản. Nếu chủ sở hữu đích thực muốn lấy lại vật thì cần thông qua cơ chế do Nhà nước lập ra (Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác) mà không thể dùng vũ lực để lấy lại vật.
5. Quyền sở hữu
5.1. Nội dung quyền sở hữu
Điều 158 BLDS 2015 quy định: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật”.
Như vậy, theo quy định này nội dung quyền sở hữu bao gồm ba quyền năng: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản.
a) Quyền chiếm hữu tài sản
Thứ nhất, quyền chiếm hữu của chủ sở hữu. Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Thứ hai, quyền chiếm hữu của người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản. Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản thực hiện việc chiếm hữu tài sản đó trong phạm vi, theo cách thức, thời hạn do chủ sở hữu xác định.
Thứ ba, quyền chiếm hữu của người được giao tài sản thông qua giao dịch dân sự. Khi chủ sở hữu giao tài sản cho người khác thông qua giao dịch dân sự mà nội dung không bao gồm việc chuyển quyền sở hữu thì người được giao tài sản phải thực hiện việc chiếm hữu tài sản đó phù hợp với mục đích, nội dung của giao dịch. Người được giao tài sản có quyền sử dụng tài sản được giao, được chuyển quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản đó cho người khác nếu được chủ sở hữu đồng ý.
b) Quyền sử dụng tài sản
Điều 189 BLDS 2015 quy định:
“Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản.
Quyền sử dụng có thể được chuyển giao cho người khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật”.
Ý nghĩa của tài sản là mang lại những hữu dụng phục vụ nhu cầu lợi ích vật chất cho con người trong quá trình sống. Bên cạnh việc nắm giữ và chi phối tài sản, chúng ta luôn đặt ra vấn đề khai thác các giá trị lợi ích của tài sản để hưởng lợi từ chúng. Quyền sử dụng tài sản được thể hiện ở hai khía cạnh sau:
- Chủ sở hữu sử dụng tài sản: Pháp luật luôn xây dựng cơ sở vững chắc để đảm bảo cho chủ sở hữu được hưởng lợi từ việc khai thác giá trị tài sản của mình. Việc khai thác công dụng của tài sản luôn xuất phát từ ý chí của chủ sở hữu và lợi ích công đồng và xã hội. Chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
- Chủ thể sử dụng tài sản không phải là chủ sở hữu: Hướng tới sự khai thác triệt để các giá trị tài sản để phục vụ cho cuộc sống của con người, pháp luật dân sự còn ghi nhận các chủ thể không phải là chủ sở hữu cũng được sử dụng tài sản theo thỏa thuận với chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật.
c) Quyền định đoạt tài sản
Điều 192 BLDS 2015 quy định: “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản”.
Như quy định trên, pháp luật đề cập việc định đoạt tài sản thông qua 4 phương diện:
- Chuyển giao quyền sở hữu tài sản: Quyền sở hữu được chuyển giao từ chủ thể này sang chủ thể khác chỉ có thể thông qua các giao dịch dân sự hợp pháp. Các giao dịch pháp luật quy định bảo đảm sự chuyển quyền sở hữu bao gồm: Giao dịch là hợp đồng (nhiều bên) như: mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay; và giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương (một bên) như: Lập di chúc… Khi tài sản được định đoạt thông qua hình thức này, pháp luật lưu ý tới tư cách chủ thể thực hiện quyền bằng việc quy định điều kiện định đoạt. Ai cũng có quyền sở hữu nhưng không phải ai cũng có quyền định đoạt tài sản của mình. Điều này thể hiện thông qua việc ghi nhận các điều kiện có hiệu lực của giao dịch nói chung trong đó có các giao dịch nhằm chuyển quyền sở hữu kể trên.
- Từ bỏ quyền sở hữu tài sản: Bản chất của việc từ bỏ là nhằm chấm dứt tư cách chủ sở hữu của mình với tài sản thông qua hình thức tuyên bố ý chí một cách công khai hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ mình từ bỏ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản đó. Việc từ bỏ quyền sở hữu xuất phát từ quyền định đoạt của các chủ thể nhưng việc thực hiện loại quyền năng này không được làm ảnh hưởng tới trật tự, an toàn xã hội, ô nhiễm môi trường…
- Tiêu dùng tài sản: là việc dùng tài sản để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của cá nhân.
- Tiêu hủy tài sản: là việc làm cho tài sản không còn trên thực tế.
Trên cơ sở ghi nhận 04 phương diện thực hiện quyền định đoạt tài sản, pháp luật còn quy định điều kiện thực hiện quyền định đoạt và chủ thể nào có quyền định đoạt tài sản.
Theo đó, việc định đoạt tài sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện không trái quy định của pháp luật. Trường hợp pháp luật có quy định trình tự, thủ tục định đoạt tài sản thì phải tuân theo trình tự, thủ tục đó.
Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu hủy hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản.
Người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của luật.
Quyền định đoạt xuất phát từ quyền tự do của các chủ thể đối với tài sản. Nhưng bằng ý chí của Nhà nước, lại xuất phát từ những lợi ích chính đáng hơn cần được bảo vệ, pháp luật dân sự quy định hạn chế quyền định đoạt trong các trường hợp sau: (i) Quyền định đoạt chỉ bị hạn chế trong trường hợp do luật quy định; (ii) Khi tài sản đem bán là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì Nhà nước có quyền ưu tiên mua. Trường hợp cá nhân, pháp nhân có quyền ưu tiên mua đối với tài sản nhất định theo quy định của pháp luật thì khi bán tài sản, chủ sở hữu phải dành quyền ưu tiên mua cho các chủ thể đó.
Tóm lại, theo quy định của pháp luật hiện hành nội dung của quyền sở hữu bao gồm ba quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản. Mỗi loại quyền năng của chủ thể đều phản ánh một khía cạnh nào đó trong việc chi phối các loại tài sản trong xã hội. Điều này trước hết mang lại ý nghĩa thực tế của tài sản cho con người, đồng thời phản ánh quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến tài sản đặc biệt là quan hệ sở hữu bằng công cụ pháp lý của Nhà nước.
5.2. Các hình thức sở hữu
Theo quy định tại BLDS 2015, các hình thức sở hữu bao gồm:
- Sở hữu toàn dân;
- Sở hữu riêng;
- Sở hữu chung.
a) Sở hữu toàn dân
Theo quy định tại Điều 197 BLDS 2015, tài sản thuộc hình thức sở hữu toàn dân gồm: Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đại diện, thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân nên Nhà nước có đầy đủ 3 quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt các tài sản đó. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu toàn dân được thực hiện trong phạm vi và theo trình tự do pháp luật quy định.
Nhà nước thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản bằng cách giao tài sản cho các cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, các tổ chức, doanh nghiệp nhà nước để các chủ thể này quản lý, sử dụng các tài sản đó phù hợp chức năng, nhiệm vụ của mình và tuân theo với các quy định của pháp luật trên cơ sở sử dụng tiết kiệm và hiệu quả.
Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản bằng cách giao cho các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương trực tiếp quyết định về việc định đoạt, chuyển giao tài sản trong phạm vi quyền hạn của các cơ quan đó.
Ngoài ra, nhà nước còn cho phép các tổ chức, doanh nghiệp được quyền định đoạt tài sản mà nhà nước đã giao theo quy định của pháp luật.
b) Sở hữu riêng
Sở hữu riêng là sở hữu của một cá nhân hoặc một pháp nhân.
Tài sản hợp pháp thuộc sở hữu riêng không bị hạn chế về số lượng, giá trị.
Chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh và các mục đích khác không trái pháp luật.
Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
c) Sở hữu chung
Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản.
Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất.
- Sở hữu chung theo phần
Sở hữu chung theo phần là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung.
Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền, nghĩa vụ đối với tài sản thuộc sở hữu chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Là sở hữu mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung.
Đối với các tài sản thuộc hình thức sở hữu chung theo phần, các đồng sở hữu có các quyền sau đây:
Quản lý tài sản chung: Các chủ sở hữu chung cùng quản lý tài sản chung theo nguyên tắc nhất trí, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Sử dụng tài sản chung: Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Định đoạt tài sản chung: Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình.
Trường hợp một chủ sở hữu chung theo phần bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua.
Trong thời hạn 03 tháng đối với tài sản chung là bất động sản, 01 tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác. Việc thông báo phải được thể hiện bằng văn bản và các điều kiện bán cho chủ sở hữu chung khác phải giống như điều kiện bán cho người không phải là chủ sở hữu chung.
Trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Tòa án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.
- Sở hữu chung hợp nhất
Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó, phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung.
Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung; cùng quản lý tài sản chung theo nguyên tắc nhất trí, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác; có quyền ngang nhau trong việc khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật.
Sở hữu chung hợp nhất bao gồm:
+ Sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia: là hình thức sở hữu chung theo đó tài sản chung có thể phân chia cho từng chủ sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Sở hữu chung của vợ chồng, sở hữu chung của các thành viên gia đình là hình thức sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia.
+ Sở hữu chung hợp nhất không thể phân chia, gồm:
(i) Sở hữu chung của cộng đồng: Sở hữu chung của cộng đồng là sở hữu của dòng họ, thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc, cộng đồng tôn giáo và cộng đồng dân cư khác đối với tài sản được hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên của cộng đồng cùng nhau đóng góp, quyên góp, được tặng cho chung hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằm mục đích thỏa mãn lợi ích chung hợp pháp của cộng đồng. Các thành viên của cộng đồng cùng quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung theo thỏa thuận hoặc theo tập quán vì lợi ích chung của cộng đồng nhưng không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Tài sản chung của cộng đồng là tài sản chung hợp nhất không phân chia.
(ii) Sở hữu chung trong nhà chung cư: Phần diện tích, trang thiết bị và các tài sản khác dùng chung trong nhà chung cư theo quy định của Luật nhà ở thuộc sở hữu chung hợp nhất của tất cả chủ sở hữu các căn hộ trong nhà đó và không phân chia, trừ trường hợp luật có quy định khác hoặc tất cả các chủ sở hữu có thỏa thuận khác. Chủ sở hữu các căn hộ trong nhà chung cư có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản lý, sử dụng tài sản quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp luật có quy định khác hoặc có thỏa thuận khác. Trường hợp nhà chung cư bị tiêu hủy thì quyền của chủ sở hữu căn hộ chung cư thực hiện theo quy định của luật.
5.3. Xác lập, chấm dứt quyền sở hữu
a) Xác lập quyền sở hữu
- Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản có được từ lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ (Điều 222 BLDS 2015)
Người lao động, người tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp có quyền sở hữu đối với tài sản có được từ lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, kể từ thời điểm có được tài sản đó.
- Xác lập quyền sở hữu theo hợp đồng (Điều 223 BLDS 2015)
Người được giao tài sản thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay hoặc hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật thì có quyền sở hữu tài sản đó.
- Xác lập quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức (Điều 224 BLDS 2015)
Chủ sở hữu, người sử dụng tài sản có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật, kể từ thời điểm thu được hoa lợi, lợi tức đó.
- Xác lập quyền sở hữu trong trường hợp sáp nhập, trộn lẫn, chế biến (Điều 225, Điều 226 Điều 227 BLDS 2015)
+ Đối với trường hợp sáp nhập:
Trường hợp tài sản của nhiều chủ sở hữu khác nhau được sáp nhập với nhau tạo thành vật không chia được và không thể xác định tài sản đem sáp nhập là vật chính hoặc vật phụ thì vật mới được tạo thành là tài sản thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu đó; nếu tài sản đem sáp nhập là vật chính và vật phụ thì vật mới được tạo thành thuộc chủ sở hữu vật chính, kể từ thời điểm vật mới được tạo thành, chủ sở hữu tài sản mới phải thanh toán cho chủ sở hữu vật phụ phần giá trị của vật phụ đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Khi một người sáp nhập tài sản là động sản của người khác vào tài sản là động sản của mình, mặc dù đã biết hoặc phải biết tài sản đó không phải là của mình và cũng không được sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản bị sáp nhập thì chủ sở hữu tài sản bị sáp nhập có một trong các quyền sau đây: (i) Yêu cầu người sáp nhập tài sản giao tài sản mới cho mình và thanh toán cho người sáp nhập giá trị tài sản của người đó; (ii) yêu cầu người sáp nhập tài sản thanh toán giá trị phần tài sản của mình và bồi thường thiệt hại nếu không nhận tài sản mới; (iii) quyền khác theo quy định của luật.
Khi một người sáp nhập tài sản là động sản của người khác vào tài sản là bất động sản của mình, mặc dù đã biết hoặc phải biết tài sản đó không phải là của mình và cũng không được sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản bị sáp nhập thì chủ sở hữu tài sản bị sáp nhập có một trong các quyền sau đây: (i) Yêu cầu người sáp nhập tài sản thanh toán giá trị phần tài sản của mình và bồi thường thiệt hại; (ii) quyền khác theo quy định của luật.
Khi một người sáp nhập tài sản là động sản của mình vào một bất động sản của người khác thì chủ sở hữu bất động sản có quyền yêu cầu người sáp nhập dỡ bỏ tài sản sáp nhập trái phép và bồi thường thiệt hại hoặc giữ lại tài sản và thanh toán cho người sáp nhập giá trị tài sản sáp nhập, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
+ Đối với trường hợp trộn lẫn:
Trường hợp tài sản của nhiều chủ sở hữu khác nhau được trộn lẫn với nhau tạo thành vật mới không chia được thì vật mới là tài sản thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu đó, kể từ thời điểm trộn lẫn.
Khi một người đã trộn lẫn tài sản của người khác vào tài sản của mình, mặc dù đã biết hoặc phải biết tài sản đó không phải của mình và không được sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản bị trộn lẫn thì chủ sở hữu tài sản bị trộn lẫn có một trong các quyền sau đây: (i) Yêu cầu người đã trộn lẫn tài sản giao tài sản mới cho mình và thanh toán cho người đã trộn lẫn phần giá trị tài sản của người đó; (ii) yêu cầu người đã trộn lẫn tài sản thanh toán giá trị phần tài sản của mình và bồi thường thiệt hại nếu không nhận tài sản mới.
+ Đối với trường hợp chế biến:
Chủ sở hữu của nguyên vật liệu được đem chế biến tạo thành vật mới là chủ sở hữu của vật mới được tạo thành.
Người dùng nguyên vật liệu thuộc sở hữu của người khác để chế biến mà ngay tình thì trở thành chủ sở hữu của tài sản mới nhưng phải thanh toán giá trị nguyên vật liệu, bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu nguyên vật liệu đó.
Trường hợp người chế biến không ngay tình thì chủ sở hữu nguyên vật liệu có quyền yêu cầu giao lại vật mới; nếu có nhiều chủ sở hữu nguyên vật liệu thì những người này là đồng chủ sở hữu theo phần đối với vật mới được tạo thành, tương ứng với giá trị nguyên vật liệu của mỗi người. Chủ sở hữu nguyên vật liệu bị chế biến không ngay tình có quyền yêu cầu người chế biến bồi thường thiệt hại.
- Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu (Điều 228 BLDS 2015)
+ Tài sản vô chủ:
Tài sản vô chủ là tài sản mà chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản đó.
Người đã phát hiện, người đang quản lý tài sản vô chủ là động sản thì có quyền sở hữu tài sản đó, trừ trường hợp luật có quy định khác; nếu tài sản là bất động sản thì thuộc về Nhà nước.
+ Tài sản không xác định được chủ sở hữu :
Người phát hiện tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.
Việc giao nộp phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người giao nộp, người nhận, tình trạng, số lượng, khối lượng tài sản giao nộp.
Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã đã nhận tài sản phải thông báo cho người phát hiện về kết quả xác định chủ sở hữu.
Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai mà không xác định được ai là chủ sở hữu tài sản là động sản thì quyền sở hữu đối với động sản đó thuộc về người phát hiện tài sản.
Sau 05 năm, kể từ ngày thông báo công khai mà không xác định được ai là chủ sở hữu tài sản là bất động sản thì bất động sản đó thuộc về Nhà nước; người phát hiện được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.
- Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy (Điều 229 BLDS 2015)
Người phát hiện tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phải thông báo hoặc trả lại ngay cho chủ sở hữu; nếu không biết ai là chủ sở hữu thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật.
Tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy mà không có hoặc không xác định được ai là chủ sở hữu thì sau khi trừ chi phí tìm kiếm, bảo quản, quyền sở hữu đối với tài sản này được xác định như sau:
+ Tài sản được tìm thấy là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì thuộc về Nhà nước; người tìm thấy tài sản đó được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật;
+ Tài sản được tìm thấy không phải là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa mà có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì thuộc sở hữu của người tìm thấy; nếu tài sản tìm thấy có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người tìm thấy được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước.
- Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên (Điều 230 BLDS 2015)
Người phát hiện tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại tài sản cho người đó; nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.
Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã đã nhận tài sản phải thông báo cho người đã giao nộp về kết quả xác định chủ sở hữu.
Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai về tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì quyền sở hữu đối với tài sản này được xác định như sau:
+ Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bỏ quên có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người nhặt được được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp tài sản có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước;
+ Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì tài sản đó thuộc về Nhà nước; người nhặt được tài sản được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.
- Xác lập quyền sở hữu đối với gia súc, gia cầm bị thất lạc, đối với vật nuôi dưới nước (Điều 231, Điều 232, Điều 233 BLDS 2015)
+ Đối với gia súc:
Người bắt được gia súc bị thất lạc phải nuôi giữ và báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại. Sau 06 tháng, kể từ ngày thông báo công khai hoặc sau 01 năm đối với gia súc thả rông theo tập quán thì quyền sở hữu đối với gia súc và số gia súc được sinh ra trong thời gian nuôi giữ thuộc về người bắt được gia súc.
Trường hợp chủ sở hữu được nhận lại gia súc bị thất lạc thì phải thanh toán tiền công nuôi giữ và các chi phí khác cho người bắt được gia súc. Trong thời gian nuôi giữ gia súc bị thất lạc, nếu gia súc có sinh con thì người bắt được gia súc được hưởng một nửa số gia súc sinh ra hoặc 50% giá trị số gia súc sinh ra và phải bồi thường thiệt hại nếu có lỗi cố ý làm chết gia súc.
+ Đối với gia cầm:
Trường hợp gia cầm của một người bị thất lạc mà người khác bắt được thì người bắt được phải thông báo công khai để chủ sở hữu gia cầm biết mà nhận lại. Sau 01 tháng, kể từ ngày thông báo công khai mà không có người đến nhận thì quyền sở hữu đối với gia cầm và hoa lợi do gia cầm sinh ra trong thời gian nuôi giữ thuộc về người bắt được gia cầm.
Trường hợp chủ sở hữu được nhận lại gia cầm bị thất lạc thì phải thanh toán tiền công nuôi giữ và chi phí khác cho người bắt được gia cầm. Trong thời gian nuôi giữ gia cầm bị thất lạc, người bắt được gia cầm được hưởng hoa lợi do gia cầm sinh ra và phải bồi thường thiệt hại nếu có lỗi cố ý làm chết gia cầm.
+ Đối với vật nuôi dưới nước:
Khi vật nuôi dưới nước của một người di chuyển tự nhiên vào ruộng, ao, hồ của người khác thì thuộc sở hữu của người có ruộng, ao, hồ đó. Trường hợp vật nuôi dưới nước có dấu hiệu riêng biệt để có thể xác định vật nuôi không thuộc sở hữu của mình thì người có ruộng, ao, hồ đó phải thông báo công khai để chủ sở hữu biết mà nhận lại. Sau 01 tháng, kể từ ngày thông báo công khai mà không có người đến nhận thì quyền sở hữu vật nuôi dưới nước đó thuộc về người có ruộng, ao, hồ.
- Xác lập quyền sở hữu do được thừa kế (Điều 234 BLDS 2015)
Thừa kế tài sản là một trong những căn cứ làm phát sinh quyền sở hữu của những người thừa kế. Người thừa kế được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản thừa kế theo quy định tại Phần thứ tư của BLDS 2015.
- Xác lập quyền sở hữu theo bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác (Điều 235 BLDS 2015)
Quyền sở hữu có thể được xác lập căn cứ vào bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác.
- Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật (Điều 236 BLDS 2015)
Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
b) Chấm dứt quyền sở hữu
- Chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho người khác (Điều 238 BLDS 2015)
Khi chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho người khác thông qua hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật hoặc thông qua việc để thừa kế thì quyền sở hữu đối với tài sản của người đó chấm dứt kể từ thời điểm phát sinh quyền sở hữu của người được chuyển giao.
- Từ bỏ quyền sở hữu (Điều 239 BLDS 2015)
Chủ sở hữu có thể tự chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản của mình bằng cách tuyên bố công khai hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ việc mình từ bỏ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản đó.
Đối với tài sản mà việc từ bỏ tài sản đó có thể gây hại đến trật tự, an toàn xã hội, ô nhiễm môi trường thì việc từ bỏ quyền sở hữu phải tuân theo quy định của pháp luật.
- Tài sản đã được xác lập quyền sở hữu cho người khác (Điều 240 BLDS 2015)
Tài sản không xác định được chủ sở hữu; tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy; tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên; gia súc, gia cầm bị thất lạc; vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên đã được xác lập quyền sở hữu cho người khác theo quy định tại các điều từ Điều 228 đến Điều 233 của BLDS 2015 thì quyền sở hữu của những người có tài sản đó chấm dứt.
Khi quyền sở hữu của người chiếm hữu, người được lợi về tài sản đã được xác lập theo quy định tại Điều 236 BLDS 2015 hoặc quy định khác của luật có liên quan thì chấm dứt quyền sở hữu của người có tài sản bị chiếm hữu.
- Xử lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu (Điều 241 BLDS 2015)
Quyền sở hữu đối với một tài sản chấm dứt khi tài sản đó bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, nếu pháp luật không có quy định khác.
Việc xử lý tài sản để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu không áp dụng đối với tài sản không thuộc diện kê biên theo quy định của pháp luật.
Quyền sở hữu đối với tài sản bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu chấm dứt tại thời điểm phát sinh quyền sở hữu của người nhận tài sản đó.
Việc xử lý quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Tài sản được tiêu dùng hoặc bị tiêu huỷ (Điều 242 BLDS 2015)
Khi tài sản được tiêu dùng hoặc bị tiêu hủy thì quyền sở hữu đối với tài sản đó chấm dứt.
- Tài sản bị trưng mua (Điều 243 BLDS 2015)
Trường hợp Nhà nước trưng mua tài sản theo quy định của luật thì quyền sở hữu đối với tài sản của chủ sở hữu đó chấm dứt kể từ thời điểm quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực pháp luật.
- Tài sản bị tịch thu (Điều 244 BLDS 2015)
Khi tài sản của chủ sở hữu do phạm tội, vi phạm hành chính mà bị tịch thu, sung quỹ nhà nước thì quyền sở hữu đối với tài sản đó chấm dứt kể từ thời điểm bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác có hiệu lực pháp luật.
6. Quyền khác đối với tài sản
6.1. Quyền đối với bất động sản liền kề
Quyền đối với bất động sản liền kề là quyền được thực hiện trên một bất động sản (gọi là bất động sản chịu hưởng quyền) nhằm phục vụ cho việc khai thác một bất động sản khác thuộc quyền sở hữu của người khác (gọi là bất động sản hưởng quyền).
Quyền đối với bất động sản liền kề được xác lập do địa thế tự nhiên, theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc.
Nguyên tắc thực hiện quyền đối với bất động sản liền kề: Việc thực hiện quyền đối với bất động sản liền kề theo thỏa thuận của các bên. Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì thực hiện theo các nguyên tắc sau đây: (i) Bảo đảm nhu cầu hợp lý của việc khai thác bất động sản hưởng quyền phù hợp với mục đích sử dụng của cả bất động sản hưởng quyền và bất động sản chịu hưởng quyền; (ii) Không được lạm dụng quyền đối với bất động sản chịu hưởng quyền; (iii) Không được thực hiện hành vi ngăn cản hoặc làm cho việc thực hiện quyền đối với bất động sản hưởng quyền trở nên khó khăn.
Quyền, nghĩa vụ đối với bất động sản liền kề bao gồm:
- Nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc thoát nước mưa (Điều 250 BLDS 2015)
Chủ sở hữu nhà, công trình xây dựng khác phải lắp đặt đường dẫn nước sao cho nước mưa từ mái nhà, công trình xây dựng của mình không được chảy xuống bất động sản của chủ sở hữu bất động sản liền kề.
- Nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc thoát nước thải (Điều 251 BLDS 2015)
Chủ sở hữu nhà, công trình xây dựng khác phải làm cống ngầm hoặc rãnh thoát nước để đưa nước thải ra nơi quy định, sao cho nước thải không chảy tràn sang bất động sản của chủ sở hữu bất động sản liền kề, ra đường công cộng hoặc nơi sinh hoạt công cộng.
- Quyền về cấp, thoát nước qua bất động sản liền kề (Điều 252 BLDS 2015)
Trường hợp do vị trí tự nhiên của bất động sản mà việc cấp, thoát nước buộc phải qua một bất động sản khác thì chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua phải dành một lối cấp, thoát nước thích hợp, không được cản trở hoặc ngăn chặn dòng nước chảy.
Người sử dụng lối cấp, thoát nước phải hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua khi lắp đặt đường dẫn nước; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Trường hợp nước tự nhiên chảy từ vị trí cao xuống vị trí thấp mà gây thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua thì người sử dụng lối cấp, thoát nước không phải bồi thường thiệt hại.
- Quyền về tưới nước, tiêu nước trong canh tác (Điều 253 BLDS 2015)
Người có quyền sử dụng đất canh tác khi có nhu cầu về tưới nước, tiêu nước, có quyền yêu cầu những người sử dụng đất xung quanh để cho mình một lối dẫn nước thích hợp, thuận tiện cho việc tưới, tiêu; người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó; nếu người sử dụng lối dẫn nước gây thiệt hại cho người sử dụng đất xung quanh thì phải bồi thường.
- Quyền về lối đi qua (Điều 254 BLDS 2015)
+ Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.
Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.
Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
+ Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác xác định.
+ Trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong mà không có đền bù.
- Mắc đường dây tải điện, thông tin liên lạc qua bất động sản khác (Điều 255 BLDS 2015)
Chủ sở hữu bất động sản có quyền mắc đường dây tải điện, thông tin liên lạc qua bất động sản của các chủ sở hữu khác một cách hợp lý, nhưng phải bảo đảm an toàn và thuận tiện cho các chủ sở hữu đó; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
6.2. Quyền hưởng dụng
Quyền hưởng dụng là quyền của chủ thể được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác trong một thời hạn nhất định.
Quyền hưởng dụng được xác lập theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc.
Quyền hưởng dụng được xác lập từ thời điểm nhận chuyển giao tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.
Quyền hưởng dụng đã được xác lập có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
Thời hạn của quyền hưởng dụng do các bên thỏa thuận hoặc do luật quy định nhưng tối đa đến hết cuộc đời của người hưởng dụng đầu tiên nếu người hưởng dụng là cá nhân và đến khi pháp nhân chấm dứt tồn tại nhưng tối đa 30 năm nếu người hưởng dụng đầu tiên là pháp nhân.
Người hưởng dụng có quyền cho thuê quyền hưởng dụng trong thời hạn quy định.
Quyền của người hưởng dụng: (i) Tự mình hoặc cho phép người khác khai thác, sử dụng, thu hoa lợi, lợi tức từ đối tượng của quyền hưởng dụng; (ii) Yêu cầu chủ sở hữu tài sản thực hiện nghĩa vụ sửa chữa đối với tài sản; trường hợp thực hiện nghĩa vụ thay cho chủ sở hữu tài sản thì có quyền yêu cầu chủ sở hữu tài sản hoàn trả chi phí; (iii) Cho thuê quyền hưởng dụng đối với tài sản.
Nghĩa vụ của người hưởng dụng: (i) Tiếp nhận tài sản theo hiện trạng và thực hiện đăng ký nếu luật có quy định; (ii) Khai thác tài sản phù hợp với công dụng, mục đích sử dụng của tài sản; (iii) Giữ gìn, bảo quản tài sản như tài sản của mình; (iv) Bảo dưỡng, sửa chữa tài sản theo định kỳ để bảo đảm cho việc sử dụng bình thường; khôi phục tình trạng của tài sản và khắc phục các hậu quả xấu đối với tài sản do việc không thực hiện tốt nghĩa vụ của mình phù hợp với yêu cầu kỹ thuật hoặc theo tập quán về bảo quản tài sản; (v) Hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu khi hết thời hạn hưởng dụng.
Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản: (i) Định đoạt tài sản nhưng không được làm thay đổi quyền hưởng dụng đã được xác lập; (ii) Yêu cầu Tòa án truất quyền hưởng dụng trong trường hợp người hưởng dụng vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình; (iii) Không được cản trở, thực hiện hành vi khác gây khó khăn hoặc xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người hưởng dụng; (iv) Thực hiện nghĩa vụ sửa chữa tài sản để bảo đảm không bị suy giảm đáng kể dẫn tới tài sản không thể sử dụng được hoặc mất toàn bộ công dụng, giá trị của tài sản.
Quyền hưởng hoa lợi, lợi tức: Người hưởng dụng có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng trong thời gian quyền này có hiệu lực. Trường hợp quyền hưởng dụng chấm dứt mà chưa đến kỳ hạn thu hoa lợi, lợi tức thì khi đến kỳ hạn thu hoa lợi, lợi tức, người hưởng dụng được hưởng giá trị của hoa lợi, lợi tức thu được tương ứng với thời gian người đó được quyền hưởng dụng.
6.3. Quyền bề mặt
Quyền bề mặt là quyền của một chủ thể đối với mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất mà quyền sử dụng đất đó thuộc về chủ thể khác.
Quyền bề mặt được xác lập theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc.
Quyền bề mặt có hiệu lực từ thời điểm chủ thể có quyền sử dụng đất chuyển giao mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất cho chủ thể có quyền bề mặt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.
Quyền bề mặt có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
Thời hạn của quyền bề mặt được xác định theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc di chúc nhưng không vượt quá thời hạn của quyền sử dụng đất.
Trường hợp thỏa thuận hoặc di chúc không xác định thời hạn của quyền bề mặt thì mỗi bên có quyền chấm dứt quyền này bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên kia biết trước ít nhất là 06 tháng.
Nội dung của quyền bề mặt: Chủ thể quyền bề mặt có quyền khai thác, sử dụng mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất thuộc quyền sử dụng đất của người khác để xây dựng công trình, trồng cây, canh tác nhưng không được trái với quy định của Bộ luật dân sự, pháp luật về đất đai, xây dựng, quy hoạch, tài nguyên, khoáng sản và quy định khác của pháp luật có liên quan. Chủ thể quyền bề mặt có quyền sở hữu đối với tài sản được tạo lập theo quy định này. Trường hợp quyền bề mặt được chuyển giao một phần hoặc toàn bộ thì chủ thể nhận chuyển giao được kế thừa quyền bề mặt theo điều kiện và trong phạm vi tương ứng với phần quyền bề mặt được chuyển giao.
Xử lý tài sản khi quyền bề mặt chấm dứt: Khi quyền bề mặt chấm dứt, chủ thể quyền bề mặt phải trả lại mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất cho chủ thể có quyền sử dụng đất theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Chủ thể quyền bề mặt phải xử lý tài sản thuộc sở hữu của mình trước khi quyền bề mặt chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp chủ thể quyền bề mặt không xử lý tài sản trước khi quyền bề mặt chấm dứt thì quyền sở hữu tài sản đó thuộc về chủ thể có quyền sử dụng đất kể từ thời điểm quyền bề mặt chấm dứt, trừ trường hợp chủ thể có quyền sử dụng đất không nhận tài sản đó. Trường hợp chủ thể có quyền sử dụng đất không nhận tài sản mà phải xử lý tài sản thì chủ thể có quyền bề mặt phải thanh toán chi phí xử lý tài sản.
III. NGHĨA VỤ VÀ HỢP ĐỒNG
1. Nghĩa vụ
Dưới góc độ pháp luật, khi một người được xác định là có nghĩa vụ nhất định đối với người khác thì họ buộc phải thực hiện nghĩa vụ này một cách đầy đủ, nếu họ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ sẽ được xác định là có hành vi vi phạm nghĩa vụ.
Theo Điều 274 BLDS 2015 thì nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền).
Các loại nghĩa vụ dân sự gồm:
- Nghĩa vụ dân sự riêng rẽ: Nghĩa vụ dân sự riêng rẽ là loại nghĩa vụ có nhiều chủ thể cùng đứng về một bên của quan hệ nghĩa vụ (có thể là bên có quyền hoặc bên có nghĩa vụ), tuy nhiên quyền, nghĩa vụ của họ hoàn toàn độc lập với quyền, nghĩa vụ của chủ thể khác.
- Nghĩa vụ dân sự liên đới: Nghĩa vụ dân sự liên đới là loại nghĩa vụ có nhiều chủ thể cùng đứng về một bên của quan hệ nghĩa vụ (có thể là bên có quyền hoặc bên có nghĩa vụ), tuy nhiên quyền hoặc nghĩa vụ của họ có một mối liên hệ chặt chẽ với quyền hoặc nghĩa vụ của chủ thể khác trong quan hệ nghĩa vụ đó.
- Nghĩa vụ dân sự theo phần: Là loại nghĩa vụ mà đối tượng được chia thành nhiều phần để thực hiện, như nghĩa vụ giao 1 tấn gạo chia làm nhiều đợt…
- Nghĩa vụ dân sự hoàn lại: Nhằm hoàn trả lại giá trị (hoặc phần giá trị) nghĩa vụ mà người khác đã thực hiện thay cho mình. Ví dụ: Nghĩa vụ của người được bảo lãnh đối với người bảo lãnh, nghĩa vụ của thành viên pháp nhân đối với pháp nhân khi họ có lỗi gây thiệt hại cho người khác khi thực hiện nhiệm vụ của pháp nhân.
- Nghĩa vụ dân sự bổ sung: Nhằm hoàn thiện một nghĩa vụ đã tồn tại trước đó. Ví dụ: Nghĩa vụ bảo lãnh, nghĩa vụ BTTH của cha mẹ khi con chưa thành niên gây thiệt hại.
1.1. Căn cứ phát sinh, chấm dứt nghĩa vụ
a) Căn cứ phát sinh nghĩa vụ
Theo quy định tại Điều 275 BLDS 2015 thì nghĩa vụ phát sinh từ các căn cứ sau đây:
(1) Hợp đồng: Quyền và nghĩa vụ phát sinh theo quan hệ hợp đồng chỉ có giá trị pháp lý khi các quyền và nghĩa vụ đó được các chủ thể thoả thuận phù hợp với quy định của pháp luật. Nói cách khác, sự thoả thuận của chủ thể trong quan hệ hợp đồng phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của một hợp đồng do pháp luật quy định.
Ví dụ: Hai bên giao kết hợp đồng mua bán tài sản, tại thời điểm hợp đồng mua bán này được coi là có hiệu lực pháp luật sẽ làm hình thành giữa hai bên nghĩa vụ giao vật, nghĩa vụ trả tiền.
(2) Hành vi pháp lý đơn phương: Nếu hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự thì hành vi pháp lý đơn phương chỉ là sự tuyên bố ý chí của một phía chủ thể. Do đó, những nội dung cụ thể liên quan đến xác lập các nghĩa vụ dân sự là hoàn toàn phụ thuộc vào sự tuyên bố ý chí của chủ thể này.
(3) Thực hiện công việc không có uỷ quyền: Khi một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc (theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật), nhưng người này lại tự nguyện thực hiện công việc vì lợi ích của người có công việc được thực hiện, khi đó được coi là phát sinh nghĩa vụ từ việc thực hiện công việc không có uỷ quyền.
(4) Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật: Khi một người chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật sẽ phát sinh nghĩa vụ dân sự. Theo đó, người chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật sẽ phải hoàn trả tài sản mà mình chiếm hữu, sử dụng, được lợi cho chủ sở hữu. Ngoài nghĩa vụ hoàn trả tài sản, người chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản còn có thể phải hoàn trả cả hoa lợi, lợi tức và phải bồi thường thiệt hại nếu gây thiệt hại.
(5) Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật: Khi một người có hành vi trái pháp luật, có lỗi gây thiệt hại sẽ phát sinh nghĩa vụ dân sự, theo đó người gây thiệt hại (người có nghĩa vụ) sẽ phải bồi thường thiệt hại đã xảy ra cho người bị thiệt hại (người có quyền).
(6) Căn cứ khác do pháp luật quy định. Phần lớn nghĩa vụ dân sự được phát sinh từ một hành vi pháp lý (hợp pháp hoặc không hợp pháp) của các chủ thể. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể, nghĩa vụ của một người đối với người khác còn được hình thành theo quy định của pháp luật.
b) Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ
Nghĩa vụ chấm dứt trong trường hợp sau đây:
(1) Nghĩa vụ được hoàn thành. Nghĩa vụ được coi là hoàn thành khi bên có nghĩa vụ đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ theo yêu cầu của bên có quyền hoặc theo sự xác định của pháp luật.
(2) Theo thoả thuận của các bên.
(3) Bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ. Ví dụ: A gây thiệt hại cho B, theo đó A có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Trong trường hợp này, quan hệ nghĩa vụ giữa A và B sẽ chấm dứt nếu B (người có quyền) miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho A (người có nghĩa vụ). Việc miễn thực hiện nghĩa vụ có thể được thực hiện trong quan hệ nghĩa vụ mà một bên có nghĩa vụ, một bên có quyền nhưng cũng có thể có trong quan hệ nghĩa vụ mà một bên vừa có quyền, bên kia vừa có nghĩa vụ và ngược lại.
(4) Nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ khác.
(5) Nghĩa vụ được bù trừ:
Một chủ thể có thể tham gia nhiều quan hệ nghĩa vụ khác nhau trong một thời điểm nhất định. Xuất phát từ lý do này, xuất hiện tình trạng cùng một chủ thể trong một quan hệ nghĩa vụ họ có thể vừa là chủ thể mang quyền trong quan hệ nghĩa vụ này đối với chủ thể phía bên kia nhưng đồng thời lại là người có nghĩa vụ với chính chủ thể đó trong một quan hệ nghĩa vụ khác. Để giản tiện cho các bên trong việc thực hiện nghĩa vụ, pháp luật cho phép các bên có thể thực hiện việc bù trừ nghĩa vụ và đây được coi là căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ dân sự.
(6) Bên có quyền và bên có nghĩa vụ hoà nhập làm một:
“Hoà nhập” nghĩa vụ của bên có quyền và bên có nghĩa vụ được hiểu là một người có một nghĩa vụ đối với chủ thể khác nhưng sau đó chính họ lại là người có quyền đối với nghĩa vụ này.
(7) Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự đã hết.
(8) Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện.
Ví dụ: nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt khi người phải cấp dưỡng chết.
(9) Bên có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân khác.
(10) Vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng nghĩa vụ khác.
(11) Trường hợp khác do luật định.
1.2. Thực hiện nghĩa vụ
Xác định nội dung của việc thực hiện nghĩa vụ là một trong những yếu tố quan trọng để xác định mức độ vi phạm nghĩa vụ của người có nghĩa vụ đối với người có quyền. Nội dung của việc thực hiện nghĩa vụ được xác định theo những tiêu chí sau đây: Thực hiện nghĩa vụ đúng về địa điểm; Thực hiện nghĩa vụ đúng về thời hạn; Thực hiện nghĩa vụ về đối tượng; Thực hiện nghĩa vụ về phương thức.
a) Địa điểm thực hiện nghĩa vụ
Địa điểm thực hiện nghĩa vụ là nơi mà tại đó người có nghĩa vụ dân sự phải thực hiện nghĩa vụ của mình.
Địa điểm thực hiện nghĩa vụ do các bên thỏa thuận.
Trường hợp không có thỏa thuận thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ được xác định như sau:
a) Nơi có bất động sản, nếu đối tượng của nghĩa vụ là bất động sản;
b) Nơi cư trú hoặc trụ sở của bên có quyền, nếu đối tượng của nghĩa vụ không phải là bất động sản.
Khi bên có quyền thay đổi nơi cư trú hoặc trụ sở thì phải báo cho bên có nghĩa vụ và phải chịu chi phí tăng lên do việc thay đổi nơi cư trú hoặc trụ sở, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
b) Thời hạn thực hiện nghĩa vụ
Thời hạn thực hiện nghĩa vụ là một thời điểm hay khoảng thời gian nhất định mà trong thời điểm hoặc khoảng thời gian đó người có nghĩa vụ phải hoàn thành nghĩa vụ của mình nhằm thỏa mãn lợi ích của bên có quyền.
Thời hạn thực hiện nghĩa vụ do các bên thỏa thuận, theo quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
Trường hợp bên có nghĩa vụ đã tự ý thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn và bên có quyền đã chấp nhận việc thực hiện nghĩa vụ thì nghĩa vụ được coi là đã hoàn thành đúng thời hạn.
Trường hợp không xác định được thời hạn thực hiện nghĩa vụ do các bên thỏa thuận, theo quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền thì mỗi bên có thể thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ vào bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý.
1.3. Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
a) Những quy định chung
Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm: Cầm cố tài sản; Thế chấp tài sản; Đặt cọc; Ký cược; Ký quỹ; Bảo lưu quyền sở hữu; Bảo lãnh; Tín chấp; Cầm giữ tài sản.
(i) Phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm
Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại. Ví dụ: người bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho người được bảo lãnh.
Nghĩa vụ được bảo đảm có thể là nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện.
Trường hợp bảo đảm nghĩa vụ trong tương lai thì nghĩa vụ được hình thành trong thời hạn bảo đảm là nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
(ii) Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai
Trường hợp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai, các bên có quyền thỏa thuận cụ thể về phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm và thời hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Khi nghĩa vụ trong tương lai được hình thành, các bên không phải xác lập lại biện pháp bảo đảm đối với nghĩa vụ đó.
(iii) Tài sản bảo đảm
Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu.
Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được.
Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai.
Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm.
(iv) Một tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ
Một tài sản có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Trường hợp một tài sản được bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì bên bảo đảm phải thông báo cho bên nhận bảo đảm sau biết về việc tài sản bảo đảm đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác. Mỗi lần bảo đảm phải được lập thành văn bản.
Trường hợp phải xử lý tài sản để thực hiện một nghĩa vụ đến hạn thì các nghĩa vụ khác tuy chưa đến hạn đều được coi là đến hạn và tất cả các bên cùng nhận bảo đảm đều được tham gia xử lý tài sản. Bên nhận bảo đảm đã thông báo về việc xử lý tài sản có trách nhiệm xử lý tài sản, nếu các bên cùng nhận bảo đảm không có thỏa thuận khác.
Trường hợp các bên muốn tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ chưa đến hạn thì có thể thỏa thuận về việc bên bảo đảm dùng tài sản khác để bảo đảm việc thực hiện các nghĩa vụ chưa đến hạn.
Biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba từ khi đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc bên nhận bảo đảm nắm giữ hoặc chiếm giữ tài sản bảo đảm.
Khi biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì bên nhận bảo đảm được quyền truy đòi tài sản bảo đảm và được quyền thanh toán theo quy định của pháp luật.
b) Cầm cố tài sản
Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Quan hệ cầm cố tài sản có những đặc điểm pháp lý riêng so với các biện pháp bảo đảm khác như sau:
Thứ nhất, quan hệ cầm cố đòi hỏi phải có sự chuyển giao tài sản bảo đảm từ bên cầm cố sang bên nhận cầm cố quản lý trong thời hạn của hợp đồng cầm cố.
Thứ hai, hợp đồng cầm cố tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Thứ ba, quan hệ cầm đồ là một hình thức phát triển của quan hệ cầm cố mang tính chất chuyên nghiệp dưới dạng là một dịch vụ kinh doanh tiền tệ có biện pháp bảo đảm là cầm cố; được gọi là cầm đồ. Bên nhận cầm đồ phải là chủ thể có đăng ký kinh doanh dịch vụ cầm đồ, phải tuân thủ các quy định của pháp luật về lãi suất cho vay, bảo quản và xử lý tài sản cầm đồ...
Nghĩa vụ của bên cầm cố và bên nhận cầm cố:
|
Nghĩa vụ của bên cầm cố tài sản
|
Nghĩa vụ của bên nhận cầm cố tài sản
|
|
- Giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố theo đúng thoả thuận như: đúng về số lượng, chất lượng, thời hạn, địa điểm...
- Báo cho bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố, nếu có; trường hợp không thông báo thì bên nhận cầm cố có quyền hủy hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố.
- Thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hợp lý để bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
|
- Bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố; nếu làm mất, thất lạc hoặc hư hỏng tài sản cầm cố thì phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố.
- Không được bán, trao đổi, tặng cho, sử dụng tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác.
- Không được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.
|
Quyền của bên cầm cố và bên nhận cầm cố:
|
Quyền của bên cầm cố
|
Quyền của bên nhận cầm cố
|
|
- Yêu cầu bên nhận cầm cố chấm dứt việc sử dụng tài sản cầm cố trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 314 của Bộ luật dân sự nếu do sử dụng mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị.
- Yêu cầu bên nhận cầm cố trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt.
- Yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm cố.
- Được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản cầm cố nếu được bên nhận cầm cố đồng ý hoặc theo quy định của luật.
|
- Yêu cầu người đang chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố trả lại tài sản đó.
- Xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
- Được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu có thỏa thuận.
- Được thanh toán chi phí hợp lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại tài sản cho bên cầm cố.
|
c) Thế chấp tài sản
Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp).
* Tài sản thế chấp:
Trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Trường hợp thế chấp một phần bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ gắn với tài sản đó thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Trường hợp tài sản thế chấp được bảo hiểm thì bên nhận thế chấp phải thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản bảo hiểm đang được dùng để thế chấp. Tổ chức bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm trực tiếp cho bên nhận thế chấp khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Trường hợp bên nhận thế chấp không thông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản bảo hiểm đang được dùng để thế chấp thì tổ chức bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm và bên thế chấp có nghĩa vụ thanh toán cho bên nhận thế chấp.
Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.
* Thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất
Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
* Thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất
Trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đồng thời là người sử dụng đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấp quyền sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không đồng thời là người sử dụng đất thì khi xử lý tài sản gắn liền với đất, người nhận chuyển quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Nghĩa vụ của bên thế chấp và bên nhận thế chấp:
|
Nghĩa vụ của bên thế chấp
|
Nghĩa vụ của bên nhận thế chấp
|
|
- Giao giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp trong trường hợp các bên có thỏa thuận, trừ trường hợp luật có quy định khác.
- Bảo quản, giữ gìn tài sản thế chấp.
- Áp dụng các biện pháp cần thiết để khắc phục, kể cả phải ngừng việc khai thác công dụng tài sản thế chấp nếu do việc khai thác đó mà tài sản thế chấp có nguy cơ mất giá trị hoặc giảm sút giá trị.
- Khi tài sản thế chấp bị hư hỏng thì trong một thời gian hợp lý bên thế chấp phải sửa chữa hoặc thay thế bằng tài sản khác có giá trị tương đương, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp.
- Giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp để xử lý khi thuộc một trong các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm quy định tại Điều 299 của Bộ luật dân sự.
- Thông báo cho bên nhận thế chấp về các quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp, nếu có; trường hợp không thông báo thì bên nhận thế chấp có quyền hủy hợp đồng thế chấp tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp.
- Không được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp, trừ trường hợp tài sản đó là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
|
- Trả các giấy tờ cho bên thế chấp sau khi chấm dứt thế chấp đối với trường hợp các bên thỏa thuận bên nhận thế chấp giữ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp.
- Thực hiện thủ tục xử lý tài sản thế chấp theo đúng quy định của pháp luật.
|
Quyền của bên thế chấp và bên nhận thế chấp:
|
Quyền của bên thế chấp
|
Quyền của bên nhận thế chấp
|
|
- Khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản thế chấp, trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức cũng là tài sản thế chấp theo thỏa thuận.
- Đầu tư để làm tăng giá trị của tài sản thế chấp.
- Nhận lại tài sản thế chấp do người thứ ba giữ và giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp do bên nhận thế chấp giữ khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.
- Được bán, thay thế, trao đổi tài sản thế chấp, nếu tài sản đó là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Trong trường hợp này, quyền yêu cầu bên mua thanh toán tiền, số tiền thu được, tài sản hình thành từ số tiền thu được, tài sản được thay thế hoặc được trao đổi trở thành tài sản thế chấp.
Trường hợp tài sản thế chấp là kho hàng thì bên thế chấp được quyền thay thế hàng hóa trong kho, nhưng phải bảo đảm giá trị của hàng hóa trong kho đúng như thỏa thuận.
- Được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh, nếu được bên nhận thế chấp đồng ý hoặc theo quy định của luật.
- Được cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp nhưng phải thông báo cho bên thuê, bên mượn biết về việc tài sản cho thuê, cho mượn đang được dùng để thế chấp và phải thông báo cho bên nhận thế chấp biết.
|
- Xem xét, kiểm tra trực tiếp tài sản thế chấp, nhưng không được cản trở hoặc gây khó khăn cho việc hình thành, sử dụng, khai thác tài sản thế chấp.
- Yêu cầu bên thế chấp phải cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp.
- Yêu cầu bên thế chấp áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn tài sản, giá trị tài sản trong trường hợp có nguy cơ làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản do việc khai thác, sử dụng.
- Thực hiện việc đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật.
- Yêu cầu bên thế chấp hoặc người thứ ba giữ tài sản thế chấp giao tài sản đó cho mình để xử lý khi bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
- Giữ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp trong trường hợp các bên có thỏa thuận, trừ trường hợp luật có quy định khác.
- Xử lý tài sản thế chấp khi thuộc trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật dân sự.
|
d) Đặt cọc, ký cược, ký quỹ
- Đặt cọc:
Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Ký cược:
Ký cược là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản ký cược) trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê.
Trường hợp tài sản thuê được trả lại thì bên thuê được nhận lại tài sản ký cược sau khi trả tiền thuê; nếu bên thuê không trả lại tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền đòi lại tài sản thuê; nếu tài sản thuê không còn để trả lại thì tài sản ký cược thuộc về bên cho thuê.
- Ký quỹ
Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ.
Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền được tổ chức tín dụng nơi ký quỹ thanh toán, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ gây ra, sau khi trừ chi phí dịch vụ.
Thủ tục gửi và thanh toán thực hiện theo quy định của pháp luật.
đ) Bảo lưu quyền sở hữu
Trong hợp đồng mua bán, quyền sở hữu tài sản có thể được bên bán bảo lưu cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được thực hiện đầy đủ.
Bảo lưu quyền sở hữu phải được lập thành văn bản riêng hoặc được ghi trong hợp đồng mua bán.
Bảo lưu quyền sở hữu phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.
- Quyền đòi lại tài sản của bên bán: Trường hợp bên mua không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho bên bán theo thỏa thuận thì bên bán có quyền đòi lại tài sản. Bên bán hoàn trả cho bên mua số tiền bên mua đã thanh toán sau khi trừ giá trị hao mòn tài sản do sử dụng. Trường hợp bên mua làm mất, hư hỏng tài sản thì bên bán có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.
- Quyền và nghĩa vụ của bên mua tài sản: Sử dụng tài sản và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản trong thời hạn bảo lưu quyền sở hữu có hiệu lực. Chịu rủi ro về tài sản trong thời hạn bảo lưu quyền sở hữu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
e) Bảo lãnh
Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Khác với cầm cố và thế chấp, trong bảo lãnh có xuất hiện thêm một chủ thể thứ ba ngoài bên có quyền và bên có nghĩa vụ, đó là bên bảo lãnh. Nếu tính chất bảo đảm trong cầm cố và thế chấp được gắn liền với tài sản bảo đảm thì trong quan hệ thế chấp tính chất bảo đảm được thể hiện thông qua sự cam kết thực hiện nghĩa vụ thay của người thứ ba đối với bên có quyền. Do vậy, biện pháp bảo lãnh làm xuất hiện các mối quan hệ sau đây:
Quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh làm xuất hiện nghĩa vụ cần bảo đảm và cam kết về nghĩa vụ cần bảo đảm;
Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh nếu như đến hạn nghĩa vụ bị vi phạm, cụ thể:
Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ.
Bên nhận bảo lãnh không được yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh khi nghĩa vụ chưa đến hạn.
Bên bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp bên nhận bảo lãnh có thể bù trừ nghĩa vụ với bên được bảo lãnh.
Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh: Bên bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh đã thực hiện, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
g) Tín chấp
Tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở có thể bảo đảm bằng tín chấp cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng theo quy định của pháp luật.
Do vậy, biện pháp bảo đảm bằng tín chấp có những đặc điểm sau:
Tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở dùng uy tín của tổ chức mình để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của các thành viên trong tổ chức mình đối với các tổ chức tín dụng. Tổ chức chính trị - xã hội bảo đảm bằng tín chấp bao gồm: Hội nông dân Việt Nam; Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Tổng liên đoàn lao động Việt Nam; Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; Hội cựu chiến binh Việt Nam; Mặt trận tổ quốc Việt Nam. Bảo lãnh bằng uy tín - thực chất đây là một phương thức để thực hiện chủ trương xoá đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta.
Bên có nghĩa vụ (bên vay): Bao gồm cá nhân, hộ gia đình nghèo là thành viên của các tổ chức nêu trên. Bên vay vốn phải sử dụng vốn vay đúng mục đích đã cam kết, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức tín dụng và tổ chức chính trị - xã hội kiểm tra việc sử dụng vốn vay, trả nợ đầy đủ gốc và lãi vay đúng hạn cho tổ chức tín dụng. Chuẩn nghèo được áp dụng trong từng thời kỳ theo quy định của pháp luật.
Bên có quyền (bên cho vay): Chủ yếu là các ngân hàng chính sách - xã hội thực hiện chủ trương xoá đói, giảm nghèo của Nhà nước.
Giá trị khoản vay: không lớn.
Mục đích sử dụng khoản vay: để hoạt động sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ theo quy định của Chính phủ.
Trong biện pháp bảo đảm bằng tín chấp, tổ chức chính trị - xã hội đóng một vai trò đặc biệt quan trọng như sau:
Xác nhận điều kiện, hoàn cảnh của cá nhân, hộ gia đình nghèo khi vay vốn tại tổ chức tín dụng. Tổ chức này có quyền từ chối bảo đảm bằng tín chấp, nếu xét thấy cá nhân, hộ gia đình nghèo không có khả năng sử dụng vốn vay (như nhân thân không tốt, không chịu áp dụng các kinh nghiệm sản xuất đã được phổ biến, tuyên truyền...) để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ và trả nợ cho tổ chức tín dụng;
Chủ động hoặc phối hợp với tổ chức tín dụng giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn;
Giám sát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả, đôn đốc trả nợ đầy đủ, đúng hạn cho tổ chức tín dụng.
Hình thức, nội dung tín chấp: Việc cho vay có bảo đảm bằng tín chấp phải được lập thành văn bản có xác nhận của tổ chức chính trị - xã hội bảo đảm bằng tín chấp về điều kiện, hoàn cảnh của bên vay vốn.
Thỏa thuận bảo đảm bằng tín chấp phải cụ thể về số tiền, mục đích, thời hạn vay, lãi suất, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người vay, tổ chức tín dụng cho vay và tổ chức chính trị - xã hội bảo đảm bằng tín chấp.
h) Cầm giữ tài sản
Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Cầm giữ tài sản phát sinh từ thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Cầm giữ tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên cầm giữ chiếm giữ tài sản.
Quyền của bên cầm giữ:
- Yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ.
- Yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thanh toán chi phí cần thiết cho việc bảo quản, giữ gìn tài sản cầm giữ.
- Được khai thác tài sản cầm giữ để thu hoa lợi, lợi tức nếu được bên có nghĩa vụ đồng ý.
Giá trị của việc khai thác tài sản cầm giữ được bù trừ vào giá trị nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ.
Nghĩa vụ của bên cầm giữ:
- Giữ gìn, bảo quản tài sản cầm giữ.
- Không được thay đổi tình trạng của tài sản cầm giữ.
- Không được chuyển giao, sử dụng tài sản cầm giữ nếu không có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ.
- Giao lại tài sản cầm giữ khi nghĩa vụ đã được thực hiện.
- Bồi thường thiệt hại nếu làm mất hoặc hư hỏng tài sản cầm giữ.
1.4. Trách nhiệm dân sự
Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ. Về nguyên tắc, bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền, trừ trường hợp có quy định khác. Trách nhiệm dân sự gồm có:
- Trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ
- Trách nhiệm do không thực hiện đúng nghĩa vụ
- Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ
- Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật
- Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền.
- Trách nhiệm do không thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc
- Trách nhiệm do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ.
Trong đó, thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất - là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút - và thiệt hại về tinh thần - là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể.
1.5. Chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ
Nghĩa vụ dân sự được phát sinh sẽ tạo lập mối liên hệ pháp lý giữa bên có quyền và bên có nghĩa vụ, theo đó bên có nghĩa vụ sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc bên có quyền sẽ tiếp nhận nghĩa vụ từ người có nghĩa vụ. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khách quan và chủ quan khác nhau, các bên trong quan hệ nghĩa vụ có thể thoả thuận, theo đó nghĩa vụ dân sự có thể được chuyển giao cho chủ thể khác theo một trong hai trường hợp: chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ dân sự. Việc chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ dân sự đem lại hậu quả pháp lý khác nhau và phải thoả mãn những điều kiện nhất định do pháp luật quy định.
a) Chuyển giao quyền yêu cầu
Việc chuyển giao quyền yêu cầu phải tuân thủ các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, quyền yêu cầu được chuyển giao phải là quyền yêu cầu có hiệu lực về mặt pháp lý và không thuộc trường hợp pháp luật không cho phép chuyển giao quyền yêu cầu.
Thứ hai, khi thực hiện việc chuyển giao quyền yêu cầu, bên có quyền phải thông báo cho bên có nghĩa vụ biết.
Thứ ba, trong trường hợp quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm thì việc chuyển giao quyền yêu cầu bao gồm cả biện pháp bảo đảm đó.
Thứ tư, người chuyển giao quyền yêu cầu phải cung cấp thông tin cần thiết, chuyển giao giấy tờ có liên quan cho người thế quyền.
Việc chuyển giao quyền yêu cầu sẽ làm chấm dứt mối quan hệ giữa người có quyền với người có nghĩa vụ, theo đó quan hệ nghĩa vụ sẽ được xác lập giữa người thế quyền với người có nghĩa vụ. Người chuyển giao quyền yêu cầu không phải chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ, trừ trường hợp có thoả thuận khác (Ví dụ: Người chuyển giao quyền yêu cầu cam kết bảo lãnh cho người có nghĩa vụ).
b) Chuyển giao nghĩa vụ
Chuyển giao nghĩa vụ dân sự làm chấm dứt quan hệ giữa bên có nghĩa vụ ban đầu, phát sinh nghĩa vụ của người nhận chuyển giao với bên có quyền nên việc chuyển giao nghĩa vụ dân sự phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
+ Việc chuyển giao nghĩa vụ dân sự buộc phải được sự đồng ý của bên có quyền. Bởi lẽ, khi bên có nghĩa vụ thay đổi thì bản thân bên có quyền sẽ phải quan tâm đến quyền lợi của mình thông qua việc đánh giá xem bên thế nghĩa vụ có khả năng thực hiện nghĩa vụ đến đâu...
+ Nghĩa vụ được chuyển giao phải là những nghĩa vụ có hiệu lực pháp lý và phải không thuộc trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên có nghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao nghĩa vụ.
Ngoài ra, trong trường hợp nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm được chuyển giao thì biện pháp bảo đảm đó chấm dứt, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
2. Hợp đồng
Hợp đồng là “sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 385 BLDS 2015). Theo đó, hợp đồng phải thỏa mãn hai điều kiện:
(1). Sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên chủ thể khi tham gia giao kết, xác lập hợp đồng;
(2). Phát sinh hậu quả pháp lý là xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên chủ thể trong quan hệ hợp đồng.
2.1. Giao kết hợp đồng
Giao kết hợp đồng là quá trình các bên chủ thể tiến hành đề nghị giao kết và chấp nhận giao kết. Do đó, giao kết hợp đồng trải qua hai giai đoạn: Giai đoạn đề nghị giao kết hợp đồng và giai đoạn chấp nhận giao kết hợp đồng.
a) Đề nghị giao kết hợp đồng
Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể. Như vậy, đề nghị giao kết hợp đồng sẽ có các đặc trưng: (1). Chứa đựng các nội dung thể hiện rõ ý định giao kết cũng như nội dung hợp đồng (bằng các điều khoản) cụ thể, rõ ràng; (2). Lời đề nghị giao kết hợp đồng hướng đến bên đã được xác định hoặc hướng tới công chúng.
Bên đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng chịu sự ràng buộc pháp lý nên “trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh” (Điều 386 BLDS 2015).
Việc thay đổi, rút lại lời đề nghị giao kết hợp đồng chỉ được thực hiện trong các trường hợp: (1) Bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị; (2) Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên đề nghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh.
Đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt trong trường hợp sau đây: (1) Bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng; (2) Bên được đề nghị trả lời không chấp nhận; (3) Hết thời hạn trả lời chấp nhận; (4) Khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực; (5) Khi thông báo về việc hủy bỏ đề nghị có hiệu lực; (6) Theo thỏa thuận của bên đềnghị và bên được đề nghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời.
b) Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị. Sự im lặng của bên được đềnghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên.
Lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng được đưa ra trong các trường hợp sau: (1) Trả lời chấp nhận ngay sau khi lời đề nghị giao kết hợp đồng được đưa ra; (2) Trả lời chấp nhận được đưa sau một khoảng thời gian cân nhắc nhưng vẫn nằm trong thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng.
Nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời.
Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý.
Trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị.
Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc qua phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về thời hạn trả lời.
c) Địa điểm giao kết hợp đồng
Địa điểm giao kết hợp đồng là nơi các bên tiến hành giao kết hợp đồng. Địa điểm giao kết hợp đồng do các bên thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận thì địa điểm giao kết hợp đồng là nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng.
d) Thời điểm giao kết và thời điểm có hiệu lực hợp đồng
- Thời điểm giao kết hợp đồng
Thời điểm giao kết hợp đồng có thể là một trong các thời điểm sau:
(1). Thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết.
(2). Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó.
(3). Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng.
(4). Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản.
Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồngđược xác định theo điểm (3) nêu trên.
- Thời điểm có hiệu lực hợp đồng
Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.
Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết. Hợpđồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật.
đ) Nội dung hợp đồng
Nội dung hợp đồng là tổng hợp các điều khoản mà các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng đã thỏa thuận. Các điều khoản hợp đồng được xác định dựa trên các tiêu chí: đối tượng hợp đồng, mục đích các bên chủ thể khi tham gia hợp đồng, điều kiện thực hiện hợp đồng, trách nhiệm khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng…
Nội dung hợp đồng thường được chia thành ba nhóm điều khoản: Thứ nhất, các điều khoản cơ bản: Các điều khoản này xác định nội dung chủ yếu và là những điều khoản không thể thiếu được của hợp đồng. Khi thiếu các điều khoản cơ bản thì hợp đồng không thể giao kết và thực hiện được. Tùy theo từng loại hợp đồng cụ thể thì các điều khoản cơ bản cũng được xác định khác nhau. Thông thường, đối tượng hợp đồng là điều khoản cơ bản của mọi hợp đồng; Thứ hai, điều khoản thông thường: Là những điều khoản được pháp luật dự liệu và quy định trong các quy phạm pháp luật. Trong trường hợp các bên chủ thể không thỏa thuận về những điều khoản này thì sẽ mặc nhiên coi như các bên đã thỏa thuận với nội dung giống với quy định của pháp luật. Do đó, trong trường hợp pháp luật đã có dự liệu và các bên không có thỏa thuận khác thì các nội dung này sẽ không cần ghi nhận lại trong nội dung hợp đồng. Thứ ba, điều khoản tùy nghi: Là các điều khoản mà các bên tham gia hợp đồng tự ý lựa chọn và thỏa thuận với nhau để quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của các bên. Mục đích của điều khoản tùy nghi là xác định cụ thể, chi tiết tạo điều kiện cho việc thực hiện hợp đồng thêm thuận lợi, đảm bảo lợi ích cho các bên chủ thể.
Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng.
Hợp đồng có thể có các nội dung sau đây: Đối tượng của hợp đồng; Số lượng, chất lượng; Giá, phương thức thanh toán; Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; Quyền, nghĩa vụ của các bên; Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; Phương thức giải quyết tranh chấp.
e) Hình thức HĐDS
Hình thức HĐDS là sự biểu hiện ra bên ngoài các điều khoản mà các bên thỏa thuận. Các bên chủ thể có quyền lựa chọn hình thức hợp đồng trên cơ sở xem xét các yêu cầu: (1) Quy định pháp luật về hình thức hợp đồng trong một số trường hợp cụ thể. Nếu đối tượng hợp đồng là đất đai, quyền sử dụng đất, nhà ở… thì pháp luật quy định bắt buộc về mặt hình thức. Trường hợp pháp luật quy định bắt buộc về mặt hình thức thì các chủ thể phải tuân theo; (2) Xem xét mối quan hệ, độ tin cậy giữa các bên chủ thể với nhau. Nếu các bên có độ tin cậy nhất định, các bên có thể lựa chọn hình thức hợp đồng đảm bảo sự nhanh, gọn và thuận lợi. Nếu các bên chủ thể chưa có sự tin cậy nhất định thì lựa chọn hình thức hợp đồng có giá trị chứng minh cao như văn bản thường hoặc văn bản được công chứng, chứng thực. Hợp đồng dưới hình thức này sẽ đảm bảo cơ sở pháp lý chắc chắn cho quá trình thực hiện hợp đồng, đặc biệt giá trị chứng minh cao khi phát sinh tranh chấp.
HĐDS hiện nay được giao kết dưới ba hình thức cơ bản: lời nói (còn gọi hình thức miệng), văn bản (bao gồm văn bản thường và văn bản được công chứng, chứng thực) và hành vi. Hình thức miệng là cách thức thỏa thuận bằng lời nói về các nội dung cơ bản của hợp đồng. Hình thức miệng được áp dụng trong các trường hợp như giá trị hợp đồng nhỏ, quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng diễn ra đồng thời một thời điểm hoặc giữa các bên chủ thể có độ tin cậy nhất định với nhau. Hình thức văn bản là việc các điều khoản mà các bên cam kết thỏa thuận sẽ được ghi nhận dưới hình thức chữ viết. Văn bản bao gồm có văn thường (các bên trong hợp đồng ký xác nhận vào hợp đồng) và văn bản được công chứng, chứng thực (bên cạnh chữ ký xác nhận của các bên chủ thể còn có cơ quan công chứng, chứng thực xác nhận vào hợp đồng). Hợp đồng có hình thức văn bản thường được áp dụng cho hợp đồng có giá trị lớn, quá trình thực hiện hợp đồng diễn ra trong một thời gian nhất định hoặc giữa các bên chủ thể chưa có độ tin cậy nhất định. Hình thức hành vi là việc hợp đồng được giao kết thông qua việc các bên chủ thể mặc nhiên thực hiện những hành vi nhất định đối với nhau.
g. Các loại hợp đồng chủ yếu
Hợp đồng gồm các loại chủ yếu sau đây:
- Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau.
- Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ.
- Hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng phụ.
- Hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính.
- Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết hợp đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ đó.
- Hợp đồng có điều kiện là hợp đồng mà việc thực hiện phụ thuộc vào việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một sự kiện nhất định.
2.2. Thực hiện hợp đồng
Thực hiện hợp đồng là quá trình các bên thực hiện các quyền, nghĩa vụ được xác định trong nội dung hợp đồng. Thực hiện HĐDS cần lưu ý các vấn đề:
Nguyên tắc thực hiện hợp đồng: Các chủ thể khi thực hiện hợp đồng cần tuân thủ nguyên tắc, bao gồm: (1) Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác; (2) Thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau; (3) Không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
Nội dung thực hiện HĐDS: Khi thực hiện các quyền, nghĩa vụ được ghi nhận trong nội dung hợp đồng, các chủ thể cần thực hiện các nội dung sau: Thứ nhất, thực hiện đúng đối tượng. Tùy thuộc vào đối tượng hợp đồng là tài sản hay công việc chi phối đến thực hiện đúng đối tượng hợp đồng. Nếu đối tượng hợp đồng là tài sản thì các bên chủ thể cần chuyển giao đúng tài sản với chất lượng, số lượng, kích thước, mẫu mã… Đối tượng hợp đồng là công việc thì các bên thực hiện đúng các quy trình để đạt kết quả như các bên dự liệu. Riêng với các công việc được thực hiện theo quy trình cụ thể, riêng biệt thì buộc các bên chủ thể phải tuân thủ. Bên thực hiện công việc chỉ có quyền thay đổi quy trình nếu được sự đồng ý của bên kia; Thực hiện đúng thời gian: Thời gian thực hiện hợp đồng do các bên thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng. Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thì xác định thời hạn phụ thuộc vào tính chất công việc; Thực hiện đúng địa điểm: Địa điểm thực hiện nghĩa vụ chuyển giao tài sản hoặc công việc do các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thì sẽ được xác định theo nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở chính của pháp nhân là chủ thể có quyền; Thực hiện đúng phương thức: Phương thức chuyển giao, phương thức thanh toán… do các bên chủ thể xác định trong hợp đồng. Trường hợp các bên không thỏa thuận thì phương thức chuyển giao được xác định chuyển giao một lần, toàn bộ, trừ trường hợp đối tượng hợp đồng có đặc thù riêng biệt. Phương thức thanh toán trong trường hợp không có thỏa thuận khác, pháp luật không có quy định khác thì được thanh toán bằng hình thức tiền mặt.
Ngoài các nội dung trên, trong một số trường hợp riêng biệt, thực hiện hợp đồng có những điểm lưu ý sau:
- Thực hiện hợp đồng đơn vụ: Đối với hợp đồng đơn vụ, bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng như đã thỏa thuận, chỉ được thực hiện trước hoặc sau thời hạn nếu được bên có quyền đồng ý.
- Thực hiện hợp đồng song vụ: Trong hợp đồng song vụ,khi các bên đã thỏa thuận thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn; không được hoãn thực hiện với lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình, trừ trường hợp quy định tại Điều 411 và Điều 413 của BLDS 2015.
Trường hợp các bên không thỏa thuận bên nào thực hiện nghĩa vụ trước thì các bên phải đồng thời thực hiện nghĩa vụ đối với nhau; nếu nghĩa vụ không thể thực hiện đồng thời thì nghĩa vụ nào khi thực hiện mất nhiều thời gian hơn thì nghĩa vụ đó phải được thực hiện trước.
Bên phải thực hiện nghĩa vụ trước có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ, nếu khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên kia đã bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụnhư đã cam kết cho đến khi bên kia có khả năng thực hiện được nghĩa vụ hoặc có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Bên phải thực hiện nghĩa vụ sau có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ đến hạn nếu bên thực hiện nghĩa vụ trước chưa thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn.
Trường hợp bên có nghĩa vụkhông thực hiện đúng nghĩa vụ của mình thì bên có quyền xác lập quyền cầm giữ tài sản đối với tài sản của bên có nghĩa vụ.
Khi một bên không thực hiện được nghĩa vụ của mình do lỗi của bên kia thì có quyền yêu cầu bên kia vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình hoặc hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Nếu một bên không thực hiện được nghĩa vụ mà các bên đều không có lỗi thì bên không thực hiện được nghĩa vụ không có quyền yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình. Trường hợp một bên đã thực hiện được một phần nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu bên kia thực hiện phần nghĩa vụ tương ứng đối với mình.
- Thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba:
Khi thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba thì người thứ ba có quyền trực tiếp yêu cầu bên có nghĩa vụphải thực hiện nghĩa vụ đối với mình; nếu các bên trong hợp đồng có tranh chấp về việc thực hiện hợp đồng thì người thứ ba không có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cho đến khi tranh chấp được giải quyết.
Bên có quyền cũng có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba.
- Thỏa thuận phạt vi phạm:
Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.
- Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản:
Hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau đây: (1) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng; (2) Tại thời điểm giao kết hợpđồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh; (3) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác; (4) Việc tiếp tục thực hiện hợpđồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên; (5) Bên có lợi ích bị ảnh hưởngđã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích.
Trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý.
Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án: (1) Chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định; (2) Sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi.
Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2.4. Sửa đổi, chấm dứt hợp đồng
Để nâng cao trách nhiệm của các bên trong thực hiện cam kết, hạn chế việc tuyên bố chấm dứt hợp đồng một cách tùy tiện và hạn chế những rủi ro pháp lý khác có liên quan trong thực hiện hợp đồng, pháp luật quy định khá cụ thể về sửa đổi, chấm dứt hợp đồng.
a) Sửa đổi hợp đồng
Sau khi hợp đồng đã được giao kết, trên cơ sở nhu cầu của các bên, do hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản, các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng. Sửa đổi hợp đồng có một số điểm lưu ý:
- Sửa đổi hợp đồng phải là sự thỏa thuận của các bên nhằm thay đổi một phần nội dung của hợp đồng.
- Sửa đổi hợp đồng làm cho phần nội dung bị sửa đổi không còn hiệu lực pháp luật, phần nội dung sửa đổi có hiệu lực pháp luật và các bên thực hiện theo nội dung đã sửa đổi.
- Hợp đồng sửa đổi phải tuân theo hình thức của hợp đồng ban đầu.
b) Chấm dứt hợp đồng
Hợp đồng chấm dứt trong trường hợp sau đây:
- Hợp đồng đã được hoàn thành: Khi các bên hoàn thành tất cả các quyền, nghĩa vụ của mình trong hợp đồng thì hợp đồng được coi hoàn thành, quan hệ hợp đồng giữa các bên chủ thể chấm dứt.
- Hợp đồng chấm dứt theo thỏa thuận của các bên: Trường hợp hợp đồng chưa hoàn thành hoặc thời hạn hợp đồng chưa hết, hợp đồng vẫn có thể chấm dứt nếu các bên có thỏa thuận chấm dứt. Việc chấm dứt hợp đồng thường áp dụng khi việc tiếp tục thực hiện hợp đồng sẽ gây tổn thất lớn về vật chất cho một hoặc cả hai bên trong hợp đồng.
- Hợp đồng chấm dứt khi cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân giao kết hợp đồng chấm dứt tồn tại mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện.
- Hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện: Một bên chủ thể có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện.
Bên bị thiệt hại do hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng của bên kia được bồi thường.
- Hợp đồng bị hủy bỏ: Một bên có quyền hủy bỏ hợpđồng và không phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp sau đây: (1) Bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận; (2) Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng; (3) Trường hợp khác do luật quy định. Vi phạm nghiêm trọng là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên kia không đạtđược mục đích của việc giao kết hợp đồng.
- Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn: Hợp đồng chấm dứt trong trường hợp này thường áp dụng với đối tượng hợp đồng là vật đặc định, không có vật cùng loại thay thế.
- Hợp đồng chấm dứt khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định tại Điều 420 của BLDS 2015;
- Trường hợp khác do luật quy định.
3. Một số hợp đồng thông dụng
3.1. Hợp đồng mua bán tài sản
Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán. Hợp đồng mua bán nhà ở, mua bán nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự, Luật nhà ở và luật khác có liên quan.
Tài sản được quy định tại Bộ luật dân sự đều có thể là đối tượng của hợp đồng mua bán. Trường hợp theo quy định của luật, tài sản bị cấm hoặc bị hạn chế chuyển nhượng thì tài sản là đối tượng của hợp đồng mua bán phải phù hợp với các quy định đó.
3.2. Hợp đồng vay tài sản
Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó.
Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định trên tại thời điểm trả nợ.
4. Thực hiện công việc không có ủy quyền
Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.
- Nghĩa vụ thực hiện công việc không có ủy quyền:
+ Người thực hiện công việc không có ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc phù hợp với khả năng, điều kiện của mình.
+ Người thực hiện công việc không có ủy quyền phải thực hiện công việc như công việc của chính mình; nếu biết hoặc đoán biết được ý định của người có công việc thì phải thực hiện công việc phù hợp với ý định đó.
+ Người thực hiện công việc không có ủy quyền phải báo cho người có công việc được thực hiện về quá trình, kết quả thực hiện công việc nếu có yêu cầu, trừ trường hợp người có công việc đã biết hoặc người thực hiện công việc không có ủy quyền không biết nơi cư trú hoặc trụ sở của người đó.
+ Trường hợp người có công việc được thực hiện chết, nếu là cá nhân hoặc chấm dứt tồn tại, nếu là pháp nhân thì người thực hiện công việc không có ủy quyền phải tiếp tục thực hiện công việc cho đến khi người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện đã tiếp nhận.
+ Trường hợp có lý do chính đáng mà người thực hiện công việc không có ủy quyền không thể tiếp tục đảm nhận công việc thì phải báo cho người có công việc được thực hiện, người đại diện hoặc người thân thích của người này hoặc có thể nhờ người khác thay mình đảm nhận việc thực hiện công việc.
- Nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện:
+ Người có công việc được thực hiện phải tiếp nhận công việc khi người thực hiện công việc không có ủy quyền bàn giao công việc và thanh toán các chi phí hợp lý mà người thực hiện công việc không có ủy quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc, kể cả trường hợp công việc không đạt được kết quả theo ý muốn của mình.
+ Người có công việc được thực hiện phải trả cho người thực hiện công việc không có ủy quyền một khoản thù lao khi người này thực hiện công việc chu đáo, có lợi cho mình, trừ trường hợp người thực hiện công việc không có ủy quyền từ chối.
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại:
+ Khi người thực hiện công việc không có ủy quyền cố ý gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc thì phải bồi thường thiệt hại cho người có công việc được thực hiện.
+ Nếu người thực hiện công việc không có ủy quyền do vô ý mà gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc thì căn cứ vào hoàn cảnh đảm nhận công việc, người đó có thể được giảm mức bồi thường.
5. Nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật
Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật dân sự[6].
Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật dân sự.
Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã thu được. Trường hợp tài sản hoàn trả là vật đặc định thì phải hoàn trả đúng vật đó; nếu vật đặc định đó bị mất hoặc hư hỏng thì phải đền bù bằng tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp tài sản hoàn trả là vật cùng loại, nhưng bị mất hoặc hư hỏng thì phải trả vật cùng loại hoặc đền bù bằng tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả khoản lợi về tài sản đó cho người bị thiệt hại bằng hiện vật hoặc bằng tiền.
Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật và không ngay tình thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm người đó biết hoặc phải biết việc chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.
Trường hợp người chiếm hữu, người sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật đã giao tài sản cho người thứ ba thì khi bị chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản yêu cầu hoàn trả, người thứ ba có nghĩa vụ hoàn trả tài sản đó, trừ trường hợp Bộ luật dân sự có quy định khác; nếu tài sản đó đã được trả bằng tiền hoặc có đền bù thì người thứ ba có quyền yêu cầu người đã giao tài sản cho mình bồi thường thiệt hại.
Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản, người bị thiệt hại được hoàn trả tài sản thì phải thanh toán chi phí cần thiết mà người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình đã bỏ ra để bảo quản, làm tăng giá trị của tài sản.
6. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Bên cạnh nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng, còn có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng… (tham khảo tài liệu)
6.1. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp BLDS, luật khác có liên quan quy định khác.
- Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
- Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định nêu trên.
6.2. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
- Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
- Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
- Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra. Nếu cả người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có lỗi trong việc xảy ra thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình. Ví dụ: A đi xe máy phòng nhanh vượt ẩu trên đường, bỗng nhiên B lao vụt qua mà không xin đường và B đã bị A lao vào gẫy chân. Trong trường hợp này B cũng có lỗi khi thiệt hại xảy ra. Do đó, A chỉ phải bồi thường tương ứng với mức độ lỗi của mình.
Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường. Ví dụ: A muốn tự tử nên cố tình chạy ra đường và lao đầu vào xe của B một cách bất ngờ và dẫn đến bị gãy chân. Trong trường hợp này lỗi hoàn toàn thuộc về B nên A không phải bồi thường.
- Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.
Ngoài ra, trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, người gây thiệt hại không phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Bởi vì, hành vi phòng vệ chính đáng không bị coi là trái luật và người thực hiện hành vi đó không bị coi là có lỗi.Người gây thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bịthiệt hại. Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
6.3. Xác định thiệt hại
a) Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:
- Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.
- Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.
- Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
- Thiệt hại khác do luật quy định.
Về nguyên tắc chung, các bên có thể thoả thuận mức bồi thường, cách thức bồi thường như sửa chữa hư hỏng, thay thế những hiện vật khác có giá trị tương đương. Nếu các bên không thỏa thuận được mà tài sản có thể sửa chữa được thì người gây thiệt hại bồi thường chi phí sửa chữa, nếu không sửa chữa được thì bồi thường giá trị còn lại của tài sản theo giá thị trường tại thời điểm gây thiệt hại.
b) Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm
Thiệt hại do sức khỏe bịxâm phạm bao gồm:
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bịthiệt hại;
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
- Thiệt hại khác do luật quy định.
Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định nêu trên và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
c) Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
- Thiệt hại do sức khỏe bịxâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;
- Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
- Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Thiệt hại khác do luật quy định.
Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định nêu trên và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bịxâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
d) Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
Thiệt hại do danh dự,nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:
- Chi phí hợp lý để hạn chế,khắc phục thiệt hại;
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;
- Thiệt hại khác do luật quy định.
Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định nêu trên và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
6.4. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
- Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
- Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 BLDS về bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
6.5. Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra
Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.
6.6. Thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm
- Trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động thì người bị thiệt hại được hưởng bồi thường từ thời điểm mất hoàn toàn khả năng lao động cho đến khi chết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Trường hợp người bị thiệt hại chết thì những người mà người này có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống được hưởng tiền cấp dưỡng từ thời điểm người có tính mạng bị xâm phạm chết trong thời hạn sau đây:
+ Người chưa thành niên hoặc người đã thành thai là con của người chết và còn sống sau khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ mười tám tuổi, trừ trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân;
+ Người thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi chết.
- Đối với con đã thành thai của người chết, tiền cấp dưỡng được tính từ thời điểm người này sinh ra và còn sống.
6.7. Bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể
a) BTTH do người dùng chất kích thích gây ra
Người do uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường. Ví dụ, A uống rượu say nên đã lái ô tô đâm vào B làm B gãy chân thì A phải bồi thường cho B.
Khi một người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khảnăng nhận thức và làm chủ hành vi mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Ví dụ, A mời B uống rượu những B không uống nên đã đè B ra rồi đổ rượu vào miệng B dẫn đến B say rượu gây thiệt hại cho C. Trường hợp này A phải bồi thường cho C.
b) BTTH do người của pháp nhân gây ra
Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật. Ví dụ, A là nhân viên của công ty B, được công ty giao việc chở hàng cho khách, trong quá trình chở hàng A đã đâm vào C làm cho C gãy chân nên công ty B là người phải bồi thường cho C.
c) Bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra
Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
d) Bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý
Người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
Người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại cho người khác trong thời gian bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý thì bệnh viện, pháp nhân khác phải bồi thường thiệt hại xảy ra.
Trường học, bệnh viện, pháp nhân khác nêu trên không phải bồi thường nếu chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý; trong trường hợp này, cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự phải bồi thường.
đ) Bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra
Cá nhân, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.
Ví dụ: A làm người giúp việc của gia đình ông B, trong quá trình dọn dẹp A đã làm rơi chiếc bình hoa từ tầng 2 xuống đường trúng vào đầu C làm C bị thương. Trong trường hợp này, gia đình ông B phải bồi thường cho C, sau đó có quyền yêu cầu A phải hoàn lại cho mình số tiền đó nếu A có lỗi.
e) BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Nguồn nguy hiểm cao độbao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.
Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật.
Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:
- Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại, ví dụ lao vào ô tô tự tử;
- Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Ví dụ: A đang điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường với tốc độ quy định, đột nhiên có một em bé chạy lao qua đường, vì phải tránh em bé nên A đã lao vào quán của B làm đổ tường rào quán của B. Trong trường hợp này A không phải bồi thường.
Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.
Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại. Ví dụ: A lái xe taxi chở khách đến đúng địa điểm theo thoả thuận, khi đến nơi A dừng xe cho khách xuống nhưng không tắt máy và mang đồ vào cho khách, B thấy vậy liền lên xe và lái thử khi chưa có bằng lái xe ô tô và dẫn đến hậu quả là xe taxi đã đâm vào sau xe mô tô do C đang điều khiển đi cùng chiều là C bị thương nặng. Trong trường hợp này cả A và B đều phải liên đới bồi thường thiệt hại cho C.
g) Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
Chủ thể làm ô nhiễm môi trường mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp chủ thể đó không có lỗi.
h) BTTH do súc vật gây ra
Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừtrường hợp có thỏa thuận khác.Ví dụ: đánh chó bị chó cắn lại, trêu trâu, bò bị trâu bò tấn công lại…
Trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại. Ví dụ: A dùng súng cao su tự chế bắn vào mông trâu của B làm trâu của B hoảng sợ lao vào C làm C tử vong, thì A phải bồi thường thiệt hại.
Trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường; khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại. Ví dụ: A ăn trộm trâu nhà B trong khi dắt trâu đi trâu đã gây thiệt hại cho C, thì A phải bồi thường.
Trường hợp súc vật thảrông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.
i) BTTH do cây cối gây ra
Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra. Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại (Ví dụ: chèo cây bị ngã do gãy cành, chặt cây để cây đổ vào người…) hoặc do sự kiện bất khả kháng (Ví dụ: gió bão làm đổ cây mặc dù cây đã được phát lá, tỉa cành theo đúng quy định) thì chủ sở hữu không phải bồi thường.
k) BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra
Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác. Ví dụ: bức tường của nhà ông A xây dựng bị đổ ra đường gây thiệt hại cho cháu B đang đi đường thì gia đình ông A phải bồi thường thiệt hại.
Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường.
Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng thì chủ sở hữu hoặc người được giao quản lí, sử dụng không phải bồi thường. Ví dụ, nhà ông A bị hư hỏng và có nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào, ông A đã làm hàng rào ngăn cách và dựng biển cảnh báo nguy hiểm nhưng ông B vẫn đi tắt qua nhà ông A. Đúng lúc đó nhà ông A bị sụp đổ làm ông B bị gẫy chân. Trong trường hợp này ông A không phải bồi thường cho ông B.
l) Bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể
Cá nhân, pháp nhân xâm phạm thi thể phải bồi thường thiệt hại.
Thiệt hại do xâm phạm thi thể gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại.
Người chịu trách nhiệm bồi thường khi thi thể bị xâm phạm phải bồi thường theo quy định nêu trên và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người chết, nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa đối với mỗi thi thể bị xâm phạm không quá ba mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
m) Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả
Cá nhân, pháp nhân xâm phạmđến mồ mả của người khác phải bồi thường thiệt hại.
Thiệt hại do xâm phạm mồmả gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại.
Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp mồ mả của người khác bị xâm phạm phải bồi thường theo quy định nêu trên và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích theo thứ tự hàng thừa kế của người chết; nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa đối với mỗi mồ mả bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
n) Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng
Cá nhân, pháp nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường.
IV. THỪA KẾ
Thừa kế là việc chuyển di sản của người đã chết cho những người còn sống theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật.
1. Những vấn đề chung về thừa kế
1.1. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về thừa kế
a) Bình đẳng về thừa kế của cá nhân
Nguyên tắc này được quy đinh tại Điều 610 BLDS 2015: “Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”.
b) Tôn trọng quyền định đoạt của người để lại di sản, người hưởng di sản
Theo nguyên tắc này, mọi cá nhân, khi có đầy đủ năng lực chủ thể thì có quyền thể hiện ý chí của mình thông qua việc quyết đinh lập di chúc, phân định tài sản cho ai, bao nhiêu và loại tài sản nào. Ngoài ra, người để lại di sản có quyền xác định di sản của mình dành cho di tặng, cho việc thờ cúng hoàn toàn tự nguyện, không chịu bất cứ một sự ép buộc, can ngăn của chủ thể khác. Người để lại di sản còn thể hiện quyền định đoạt di sản của mình thông qua việc bổ sung, sửa đổi, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc. Một người khi chết, có để di chúc và di chúc có hiệu lực pháp luật thì bản di chúc là căn cứ để dịch chuyển di sản của người đó sang cho những người thừa kế theo ý chí của họ đã thể hiện trong di chúc. Tuy nhiên, việc định đoạt của người lập di chúc bị hạn chế trong trường hợp quy định tại Điều 644 BLDS 2015. Theo đó, tại thời điểm mở thừa kế, người để lại di sản còn có những người quan hệ gần gũi, thân thiết như cha, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên, con thành niên không có khả năng lao động thì những người này vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó. Bên cạnh việc tôn trọng quyền định đoạt của người để lại di sản thì người hưởng di sản cũng có quyền thể hiện ý chí của mình là nhận hay không nhận di sản thừa kế: “Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác”.
1.2. Thời điểm mở thừa kế, địa điểm mở thừa kế
Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày Tòa án xác định chết.
Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cưtrú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản.
1.3. Người thừa kế
Là người hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Người thừa kế được xác định theo hai loại sau đây:
- Người thừa kế theo di chúc có thể là mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác được xác định trong di chúc.
- Người thừa kế theo pháp luật chỉ là cá nhân, được hưởng di sản mà người chết để lại do pháp luật quy định dựa trên mối quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân.
Điều 613 BLDS 2015 quy định: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”.
1.4. Người quản lý di sản
Là người có quyền nắm giữ quản lý các tài sản thuộc di sản mà người chết để lại trong thời gian di sản chưa được chia cho những người thừa kế.
Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra.
Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản.
Trường hợp chưa xác địnhđược người thừa kế và di sản chưa có người quản lý thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.
1.5. Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm
Chết cùng thời điểm được xác định khi những người đó đều chết mà có đủ căn cứ cho thấy họ chết vào cùng một lúc hoặc khi những người đó đều đã chết mà không có căn cứ để có thể xác định được ai chết trước. Trường hợp này được hiểu là trong số những người đã chết thì thực tế có thể có người chết trước, người chết sau nhưng vì không thể xác định được chính xác nên buộc phải xác định họ chết cùng thời điểm.
Trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước (sau đây gọi chung là chết cùng thời điểm) thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị.
1.6. Người không được quyền hưởng di sản
Người không được quyền hưởng di sản quy định tại Khoản 1 Điều 621 BLDS 2015 bao gồm người thừa kế theo pháp luật và người thừa kế theo di chúc. Những người này đáng lẽ được hưởng di sản thừa kế nhưng do họ có hành vi trái pháp luật, trái đạo đức nên bị pháp luật tước đi quyền hưởng di sản thừa kế, bao gồm:
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của ngườiđó;
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộphần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Tuy nhiên, để bảo đảm quyền tự định đoạt của người có di sản, pháp luật quy định những người nêu trên vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.
1.7. Từ chối nhận di sản
Việc từ chối nhận di sản, bên cạnh việc nhận di sản, được pháp luật xác nhận là một quyền. Đó là việc thể hiện tự do ý chí của người thừa kế. Tuy nhiên:
- Không được từ chối nhận di sản để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. Nếu người thừa kế không thực hiện các khoản nợ khi đã đến hạn vì không có khả năng tài sản để thanh toán, đồng thời từ chối quyền hưởng di sản thì việc từ chối này không được chấp nhận vì được suy đoán là nhằm trốn tránh việc thực hiện các nghĩa vụ nói trên.
- Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.
- Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.
1.8. Thời hiệu thừa kế
Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
- Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật dân sự;
- Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu nêu trên.
Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thực chất đây là thời hiệu dành cho các chủ nợ đối với nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại. Theo thời hiệu này, các chủ nợ nói trên chỉ có quyền yêu cầu người thừa kế thay người để lại di sản thực hiện nghĩa vụ đó trong thời hạn 3 năm tính từ ngày người để lại di sản chết.
2. Thừa kế theo di chúc
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
2.1. Người lập di chúc
- Người đã thành niên (người từ đủ 18 tuổi trở lên) có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.
- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
- Người bị hạn chế về thể chất hoặc người không biết chữ cũng có thể lập di chúc; di chúc này phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
2.2. Quyền của người lập di chúc
Người lập di chúc có các quyền sau đây:
- Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.
- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.
- Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.
- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.
- Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
2.3. Hình thức di chúc
Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.
Di chúc bằng văn bản bao gồm:
- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng.
- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng.
- Di chúc bằng văn bản có công chứng.
- Di chúc bằng văn bản có chứng thực.
Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.
2.4. Di chúc hợp pháp
Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép và nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
2.5. Hiệu lực của di chúc
Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.
Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây:
- Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;
- Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.
Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.
Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.
2.6. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
- Con thành niên mà không có khả năng lao động.
Quy định này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản không nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản do có hành vi hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; hoặc có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
3. Thừa kế theo pháp luật
Theo quy định tại Điều 649 BLDS 2015 thì: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.”
3.1. Các trường hợp thừa kế theo pháp luật
Theo quy định tại Điều 650 BLDS 2015, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
- Không có di chúc: Đây là trường hợp theo quy định của pháp luật thì người để lại di sản có năng lực chủ thể trong việc lập di chúc nhưng người này lại không thực hiện quyền lập di chúc, do đó không có di chúc.
- Di chúc không hợp pháp: Người để lại di sản có để lại di chúc nhưng di chúc đó vi phạm các điều kiện có hiệu lực của di chúc do pháp luật quy định. Trường hợp này di chúc bị coi là vô hiệu nên di sản được chia theo pháp luật.
- Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế. Trong trường hợp này, di chúc sẽ bị coi là vô hiệu và di sản được chia theo pháp luật. Tuy nhiên, nếu chỉ có một trong số những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản (đối với cá nhân) hoặc một trong số cơ quan, tổ chức không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di sản liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này vô hiệu và được chia thừa kế theo pháp luật.
- Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý có trường hợp người thừa kế nhường quyền thừa kế của mình cho người khác (thực chất là người thừa kế cho người khác phần di sản mà lẽ ra họ được hưởng) thì cũng không coi là từ chối quyền hưởng di sản.
Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:
- Phần di sản không được định đoạt trong di chúc: Người để lại di sản có nhiều di sản nhưng họ chỉ định đoạt một phần nhất định trong tổng số khối di sản do họ để lại. Đối với phần di sản không được định đoạt trong di chúc sẽ được chia theo pháp luật.
- Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật: Nếu di chúc có một phần vô hiệu mà không ảnh hưởng đến các phần còn lại thì chỉ phần di sản có liên quan đến phần của di chúc vô hiệu được chia theo pháp luật còn các phần khác vẫn được chia theo ý chí của người lập di chúc.
- Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
3.2. Người thừa kế theo pháp luật
Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất
Gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
Quan hệ thừa kế giữa vợ với chồng và ngược lại: Vợ sẽ được thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của chồng và ngược lại. Tuy nhiên, chỉ coi là vợ chồng nếu hai bên nam nữ kết hôn hợp pháp.
Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ đẻ với con đẻ và ngược lại: Cha đẻ, mẹ đẻ, con đẻ được thừa kế theo pháp luật của nhau. Con đẻ được hưởng thừa kế của cha mẹ đẻ không kể là con trong giá thú hay con ngoài giá thú và ngược lại.
Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ nuôi với con nuôi và ngược lại: Để có thể được hưởng thừa kế thì quan hệ nhận nuôi con nuôi phải hợp pháp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
b) Hàng thừa kế thứ hai
Gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.
Quan hệ thừa kế giữa ông nội, bà nội với cháu nội, giữa ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại và ngược lại: Ông bà nội là người sinh ra cha của cháu, ông bà ngoại là người đã sinh ra mẹ của cháu. Nếu cháu (ruột) chết thì ông bà nội, ông bà ngoại sẽ ở hàng thừa kế thứ hai của cháu và ngược lại.
Quan hệ thừa kế giữa anh chị ruột với em ruột và ngược lại: Mặc dù pháp luật không quy định cụ thể nhưng có thể hiểu anh chị em ruột là anh chị em cùng cha hoặc cùng mẹ. Do vậy, nếu anh chị ruột chết trước em ruột thì em ruột được hưởng thừa kế của anh, chị ruột và ngược lại.
c) Hàng thừa kế thứ ba
Gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Khi chia thừa kế theo hàng thừa kế, những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
Những người ở hàng thừa kếsau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
3.3. Thừa kế thế vị
Theo quy định tại Điều 613 BLDS 2015 thì người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợp người thừa kế không còn sống vào thời điểm mở thừa kế (chết trước hoặc chết cùng với người để lại di sản). Để đảm bảo quyền lợi cho những người có quan hệ huyết thống trực hệ trong phạm vi gần gũi, pháp luật quy định về thừa kế thế vị như sau (Điều 652 BLDS 2015):
“Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.”
Một người cha (mẹ) có bao nhiêu người con thì bấy nhiêu người con đó (cháu của ông bà) sẽ được hưởng thừa kế thế vị của ông bà nếu cha (mẹ) chết trước ông (bà) (tất cả những người con này chỉ được hưởng một suất thừa kế mà lẽ ra cha hoặc mẹ của những người này được hưởng nếu còn sống). Tương tự như vậy, nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì (tất cả) chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.
4. Phân chia di sản
4.1. Phân chia di sản theo di chúc
Di chúc là sự thể hiện ý chí của người để lại di sản về việc định đoạt tài sản của mình sau khi chết cho những người thừa kế, do đó phân chia di sản theo di chúc chính là phân chia di sản theo ý chí của người để lại di sản. Vì vậy, cần căn cứ vào di chúc để phân chia đúng theo ý nguyện của người chết. Khi phân chia di sản theo di chúc cần lưu ý xác định có những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc hay không, và những người này đã được hưởng ít nhất 2/3 của một suất thừa kế nếu di sản được chia theo pháp luật hay chưa. Việc phân chia di sản theo di chúc có thể theo một trong trường hợp sau:
Nếu trong di chúc, người để lại di sản không xác định rõ phần di sản của từng người thừa kế thì di sản sẽ được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc. Toàn bộ di sản sẽ được định giá thành tiền và chia đều cho những người thừa kế được chỉ định trong di chúc (trừ trường hợp những người thừa kế có thỏa thuận khác).
Trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó, đồng thời cũng sẽ phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Trường hợp di chúc chỉxác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản.
4.2. Phân chia di sản theo pháp luật
Khi rơi vào những trường hợp chia thừa kế theo pháp luật như đã liệt kê ở phần trên thì di sản sẽ được chia theo pháp luật. Khi chia di sản pháp luật cần lưu ý một số vấn đề:
Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật. Dù chia bằng hiện vật theo yêu cầu của những người thừa kế nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc: những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng di sản khi hàng thừa kế trước không còn ai, và những người ở cùng một hàng thừa kế thì được hưởng di sản bằng nhau. Do đó, cần định giá toàn bộ khối di sản, và xác định số người thừa kế để xác định được một suất thừa kế theo pháp luật. Số người thừa kế theo pháp luật sẽ không tính những người thừa kế không có quyền hưởng di sản, những người thừa kế bị truất quyền hưởng di sản; chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản (không có thừa kế thế vị); người thừa kế từ chối nhận di sản. Khi đã xác định được một kỉ phần bắt buộc thì người thừa kế nào nhận hiện vật được xác định là có giá trị lớn hơn sẽ phải trích phần chênh lệch cho những người thừa kế khác nhận phần hiện vật có giá trị nhỏ hơn (trừ trường hợp những người thừa kế có thỏa thuận khác).
Nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia.
Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng
4.3. Hạn chế phân chia di sản
Với ý nghĩa để tôn trọng ý chí của người để lại di sản, cũng như đảm bảo cuộc sống ổn định của những người thừa kế, pháp luật quy định về trường hợp hạn chế phân chia di sản thừa kế, theo đó:
Trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định thì chỉ khi đã hết thời hạn đó di sản mới được đem chia.
Trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định. Thời hạn này không quá 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn 03 năm mà bên còn sống chứng minh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình họ thì có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quá 03 năm.
B. TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT
I. QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN
1. Năm 1995 do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên cha mẹ Nguyễn Văn N đã cho N làm con nuôi một gia đình hiếm muộn và N mang họ theo họ của cha nuôi là Trần Văn N. Lúc đầu cha mẹ nuôi của N rất tốt nhưng sau đó mấy năm tình cảm của cha mẹ nuôi dành cho N nhạt dần do mẹ nuôi của N sinh được 2 em.
Sống trong gia đình có sự phân biệt giữa con đẻ và con nuôi đã khiến N thấy mặc cảm, buồn chán vì thế đôi khi N có những hành động không đúng khiến cha mẹ nuôi bực mình.
Sau nhiều năm tìm kiếm, năm 21 tuổi, N đã tìm lại được cha mẹ đẻ của mình. Cha mẹ đẻ của N lúc này cũng rất muốn nhận lại con và thay đổi họ tên của con theo họ của cha đẻ nhưng cha mẹ nuôi không đồng ý.
N có quyền thay đổi lại họ theo họ của cha đẻ hay không?
Trả lời:
Điều 27 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định
“1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ trong trường hợp sauđây:
a) Thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại;
b) Thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi;
c) Khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ cho người đó theo họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ;
d) Thay đổi họ cho con theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc của con khi xác định cha, mẹ cho con;
đ) Thay đổi họ của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;
e) Thay đổi họ theo họ của vợ,họ của chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại họtrước khi thay đổi;
g) Thay đổi họ của con khi cha, mẹ thay đổi họ;
h) Trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.
2. Việc thay đổi họ cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó.
3. Việc thay đổi họ của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo họ cũ”
Theo quy định tại Điều 26 Luật hộ tịch, quyền thay đổi họ, tên theo quy định của Bộ luật dân sự là quyền thay đổi họ, chữ đệm, tên của cá nhân trong nội dung khai sinh đã đăng ký.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 25 và khoản 3 Điều 13 của Luật nuôi con nuôi, thì trong trường hợp này, bố mẹ nuôi của N có hành vi phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi, N đã thành niên nên N hoặc bố mẹ đẻ của N có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền chấm dứt việc nuôi con nuôi.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 27 Bộ luật dân sự năm 2015, khi N thôi không làm con nuôi, N hoặc cha, mẹ đẻ của N có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ tên của N theo họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ.
II. QUYỀN SỞ HỮU VÀ CÁC QUYỀN KHÁC ĐỐI VỚI TÀI SẢN
2. Ông B nhặt được chiếc đồng hồ do anh A đánh rơi trị giá 800.000 đồng và không thông báo cho chính quyền hay công an xã để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết. Hơn một năm sau, anh A tình cờ nhìn thấy ông B đeo chiếc đồng hồ đó nên đã đến đòi ông B trả lại chiếc đồng hồ cho mình. Ông B không đồng ý vì cho rằng từ khi nhặt được đến nay đã hơn một năm nên chiếc đồng hồ đó thuộc sở hữu của ông B. Trong trường hợp này, quyền sở hữu của anh A có được pháp luật bảo vệ không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 164 Bộ luật dân sự năm 2015, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật.
Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
2. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó”.
Như vậy, đối chiếu với quy định trên, anh A có quyền đòi lại chiếc đồng hồ của mình đã bị ông B chiếm hữu.
Trường hợp ông B nhặt được chiếc đồng hồ do anh A đánh rơi nhưng thông báo cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc Công an nơi gần nhất để thông báo công khai mà sau một năm, kể từ ngày thông báo công khai về vật nhặt được vẫn không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì chiếc đồng hồ đó mới thuộc sở hữu của ông B.
3. A mua xe đạp của B trị giá 800.000 đồng mà không biết đây là xe B ăn trộm của C. Sau 06 tháng, C phát hiện chiếc xe đạp A đang sử dụng là của mình nên đòi lại. A không đồng ý trả lại. Xin hỏi, trong trường hợp này, quyền lợi của các bên được giải quyết như thế nào?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 166 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật”.
Khoản 1 Điều 579 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này”.
Điều 236 Bộ luật dân sự 2015 quy định: " Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác".
Nhận thấy, A mua xe đạp của B với giá 800.000 đồng mà không biết đây là xe B ăn trộm của C nên A là người chiếm hữu ngay tình. Thời gian A sử dụng xe đạp công khai, liên tục là 06 tháng nên không thể trở thành chủ sở hữu của chiếc xe đạp.
Điều167 Bộ luật dân sự 2015 quy định, chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu..
Điều 582 Bộ luật dân sự 2015 quy định, trường hợp người chiếm hữu, người sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật đã giao tài sản cho người thứ ba thì khi bị chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản yêu cầu hoàn trả, người thứ ba có nghĩa vụ hoàn trả tài sản đó, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác; nếu tài sản đó đã được trả bằng tiền hoặc có đền bù thì người thứ ba có quyền yêu cầu người đã giao tài sản cho mình bồi thường thiệt hại
Điều 583 Bộ luật dân sự 2015 quy định, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản, người bị thiệt hại được hoàn trả tài sản thì phải thanh toán chi phí cần thiết mà người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình đã bỏ ra để bảo quản, làm tăng giá trị của tài sản..
Do đó, C có quyền đòi lại A xe đạp và phải thanh toán những chi phí cần thiết mà A đã bỏ ra để bảo quản, làm tăng giá trị của tài sản (nếu có); A có quyền yêu cầu B bồi thường thiệt hại - trả lại 800.000 đồng và yêu cầu C thanh toán những chi phí cần thiết mà A đã bỏ ra để bảo quản, làm tăng giá trị của tài sản (nếu có).
4. Cháu V (10 tuổi) trong lúc nấu cơm, do sơ ý đã để lửa bén vào đống củi để trong bếp. Sợ quá, cháu hô hoán kêu cứu. Vừa may, anh D đi ngang qua thấy vậy liền vơ vội cái chăn thuộc loại đắt tiền của nhà bà H phơi gần đó, nhúng nước chụp lên đống củi đang cháy. Đám cháy được dập tắt nhưng cái chăn cũng bị hỏng, không dùng được nữa. Vậy bà H có quyền yêu cầu anh D bồi thường cho mình vì cái chăn bị hỏng không?
Trả lời:
Về nguyên tắc, chủ sở hữu tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi gây thiệt hại đến tài sản của mình bồi thường thiệt hại.
Tuy nhiên, Điều 171 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định, trong tình thế cấp thiết, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản không được cản trở người khác dùng tài sản của mình hoặc cản trở người khác gây thiệt hại đối với tài sản đóđể ngăn chặn, làm giảm mối nguy hiểm hoặc thiệt hại lớn hơn có nguy cơ xảy ra.
Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa trực tiếp lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn.
Gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản bị thiệt hại trong tình thế cấp thiết được bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 595 của Bộ luật dân sự.
Theo quy định tại Điều 595 Bộ luật dân sự năm 2015, trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại.
Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Căn cứ vào các quy định pháp luật nêu trên, thì vụ cháy xảy ra là tình thế cấp thiết. Khi đó, anh D cần phải hành động nhanh để ngăn chặn nguy cơ cháy lớn lan sang các nhà xung quanh. Bà H - chủ sở hữu tài sản - có trách nhiệm tuân theo các quy định về nghĩa vụ của chủ sở hữu trong trường hợp xảy ra tình thế cấp thiết. Do đó, anh D không phải bồi thường thiệt hại cho bà H. Em V là người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại cho bà H, nhưng em V mới 10 tuổi nên bố mẹ em V phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bà H theo quy định tại Điều 586 Bộ luật dân sự năm 2015.
5. Từ ngày nhà ông B mang cái máy xẻ gỗ ra trước cổng nhà để cưa xẻ thì khắp ngõ chỗ nào cũng thấy mùn cưa. Nhà bà H ở liền kề nhà ông B, không những hàng ngày phải chịu tiếng ồn của máy mà còn phải chịu cảnh sân vườn lúc nào cũng phủ đầy bụi gỗ. Nhiều lần bà H yêu cầu ông B phải có biện pháp che chắn, nhưng ông B vẫn không làm theo yêu cầu của bà H. Xin cho biết trong trường hợp này, nghĩa vụ của ông B được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Điều 172 Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định rõ nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc bảo vệ môi trường. Theo đó, khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thì chủ thể phải tuân theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; nếu làm ô nhiễm môi trường thì phải chấm dứt hành vi gây ô nhiễm, thực hiện các biện pháp để khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại.
Trong trường hợp trên, ông B, khi cưa xẻ gỗ phải có biện pháp che chắn không để mùn cưa, bụi gỗ bay lung tung làm ảnh hưởng đến nhà hàng xóm và ảnh hưởng môi trường xung quanh. Nếu ông không thực hiện, gây ô nhiễm môi trường quá mức quy định thì có thể bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
6. Nửa tháng nay, từ ngày anh C sắm được bộ giàn âm thanh mới, cứ về khuya là anh lại mở nhạc. Các hộ liền kề trong khu tập thể đã nhiều lần yêu cầu anh C bảo đảm sự yên tĩnh chung, không được làm ảnh hưởng đến mọi người xung quanh, nhưng anh C cho rằng việc mở nhạc to hay nhỏ là quyền của anh, không liên quan đến các hộ liền kề. Vậy hành vi của anh C có phù hợp với quy định của pháp luật không?
Trả lời:
Điều 173 của Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định rất rõ nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc tôn trọng, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Theo đó, khi thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thì chủ thể phải tôn trọng, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, không được lạm dụng quyền để gây mất trật tự, an toàn xã hội, làm thiệt hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
Như vậy, việc anh C thường xuyên mở nhạc to, gây ồn, thiếu ý thức tôn trọng cuộc sống của những người hàng xóm là trái với quy định của Bộ luật dân sự năm 2005. Nếu anh C vẫn tiếp tục gây ồn quá mức quy định thì sẽ bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 6 Nghị định số 167/2013/NĐ-CPngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
7. Ông M trồng cây bưởi trong vườn nhà mình, nhưng có vài cành bưởi vươn sang phần đất nhà bà Ng. Đến khi thu hoạch bưởi, ông M định sang nhà bà Ng để trẩy quả nhưng bà Ng không đồng ý với lý do quả bưởi ở phần đất của ai thì người đó được hưởng.
Xin hỏi pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015, người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác.
Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Như vậy, ông M đã vi phạm quy định của pháp luật về nghĩa vụ tôn trọng ranh giới giữa các bất động sản. Trong trường hợp này, theo quy định của pháp luật, ông M muốn thu hoạch bưởi trên cành vươn sang nhà bà Ng thì phải hỏi ý kiến bà Ng và được bà Ng đồng ý. Tuy nhiên, hai gia đình nên thoả thuận để cùng thụ hưởng phần quả trên những cành bưởi vươn sang đất nhà bà Ng, không nên chỉ vì mấy quả bưởi mà làm mất đi tình làng nghĩa xóm.
8. Nhà ông S và nhà bà Y liền kề nhau, ranh giới giữa khoảng sân của hai nhà là một hàng rào râm bụt. Ông S xây lại nhà và có bàn với bà Y là mỗi gia đình bớt một ít đất để xây tường rào chung, nhưng bà Y không đồng ý. Theo bà Y, ông S muốn xây tường rào thì cứ xây trên phần đất nhà mình chứ không được lấn sang đất nhà bà. Ông S lại cho rằng vì lợi ích chung nên ông vẫn xây ở đúng vị trí của hàng rào râm bụt cũ. Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như thế nào về vấn đề này?
Trả lời:
Khoản 1 và khoản 2 Điều 176 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:
“1. Chủ sở hữu bất động sản chỉ được dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mình.
2. Các chủ sở hữu bất động sản liền kề có thể thỏa thuận với nhau về việc dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên ranh giới để làm mốc giới ngăn cách giữa các bất động sản; những vật mốc giới này là sở hữu chung của các chủ thể đó.
Trường hợp mốc giới ngăn cách chỉ do một bên tạo nên trên ranh giới và được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý thì mốc giới ngăn cách đó là sở hữu chung, chi phí để xây dựng do bên tạo nên chịu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; nếu chủ sở hữu bất động sản liền kề không đồng ý mà có lý do chính đáng thì chủ sở hữu đã dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn phải dỡ bỏ”.
Đối chiếu quy định trên, nếu ông S và bà Y không thoả thuận được với nhau về vị trí xây tường làm mốc giới ngăn cách giữa hai nhà, thì ông S chỉ được xây tường ngăn trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mình.
9. Nhà của A và nhà của B (nhà bên cạnh) đều là nhà cấp 4 và đều đang ở trạng thái có thể sử dụng bình thường nhưng do A phá dỡ nhà cũ để xây nhà mới (nhà kiên cố 4 tầng) nên đến nay mặc dù nhà của A chưa kịp hoàn thiện nhưng nhà của B đã có hiện tượng tuờng bị nứt ngang và có nguy cơ bị sập. Ông B yêu cầu ông A ngừng thi công vì nếu tiếp tục xây sẽ gây ra thiệt hại, nhưng ông A chỉ hỗ trợ cho ông B một khoản tiền rồi lại tiếp tục xây vì cho rằng ông đã được cấp phép xây dựng bốn tầng nên ông có quyền xây dựng. Vậy, pháp luật quy định như thế nào về trường hợp này?
Trả lời:
Điều 174 Bộ luật dân sự năm 2015 về nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng qui định:
“Khi xây dựng công trình, chủsở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải tuân theo pháp luật về xây dựng, bảo đảm an toàn, không được xây vượt quá độ cao, khoảng cách mà pháp luật vềxây dựng quy định và không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản là bất động sản liền kề và xung quanh”.
Đối chiếu với quy định nêu trên, thì ông A là chủ sở hữu công trình phải cho ngừng ngay việc xây dựng theo yêu cầu của B. Việc ông A xây dựng đã làm lún, nứt nhà ông B nên ông A phải bồi thường thiệt hại. Như vậy, việc ông A cho rằng ông được cấp phép xây dựng bốn tầng nên ông có quyền xây tiếp là không đúng với quy định của pháp luật hiện hành.
10. Ông H đào giếng sát chân tường nhà ông A. Ông A cho rằng ông H làm như vậy thì nhà ông sẽ bị hỏng. Nhưng ông H cho rằng đất thuộc quyền sử dụng của ông thì ông có quyền sử dụng theo mục đích riêng của mình.
Hỏi việc làm của ông H có bảo đảm đúng với quy định về an toàn đối với công trình xây dựng liền kề hay không?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 177 Bộ luật dân sự năm 2015, khi đào giếng, đào ao hoặc xây dựng công trình dưới mặt đất, chủ sở hữu công trình phải đào, xây cách mốc giới một khoảng cách do pháp luật về xây dựng quy định.
Khi xây dựng công trình vệ sinh, kho chứa chất độc hại và các công trình khác mà việc sử dụng có khả năng gây ô nhiễm môi trường thì chủ sở hữu tài sản đó phải xây cách mốc giới một khoảng cách và ở vị trí hợp lý, phải bảo đảm vệ sinh, an toàn và không làm ảnh hưởng đến chủ sở hữu bất động sản khác.
Trường hợp gây thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh quy định này thì chủ sở hữu cây cối, công trình phải bồi thường.
Đối chiếu với quy định trên, việc ông H cho rằng đất thuộc quyền sử dụng của ông thì ông có quyền sử dụng theo mục đích riêng của mình là không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. Bởi vì, chủ sở hữu công trình xây dựng phải có nghĩa vụ bảo đảm an toàn đối với công trình xây dựng liền kề.
11. Gia đình ông A và bà B ở cạnh nhau. Ông A sửa nhà và định mở thêm cửa sổ, nhưng vì cửa sổ trông thẳng sang nhà bà B nên các con bà B không đồng ý cho ông A mở thêm cửa sổ. Xin cho biết, pháp luật có quy định về vấn đề này không?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 271 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về vấn đề này như sau:
Chủ sở hữu nhà chỉ được trổ cửa ra vào, cửa sổ quay sang nhà bên cạnh, nhà đối diện và đường đi chung theo quy định của pháp luật về xây dựng.
Điều 7 Quy chuẩn xây dựng Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 682/BXD-CSXD ngày 14/12/1996 của Bộ trưởng Xây dựng, thì chủ sở hữu nhà chỉ được trổ cửa sổ, lỗ thông hơi, lỗ thông gió theo quy định sau:
- Từ tầng hai (lầu một) trở lên, trên các bức tường cách ranh giới đất với công trình bên cạnh dưới 2 m không được mở cửa đi, cửa sổ, lỗ thông hơi (chỉ được mở cửa đi, cửa sổ, lỗ thông hơi trên các bức tường cách ranh giới đất với nhà bên cạnh ít nhất 2 m). Khi mở cửa cần có biện pháp tránh tia nhìn trực tiếp vào nội thất nhà bên cạnh (chắn tầm nhìn hoặc bố trí so le các cửa sổ giữa hai nhà).
- Mép ngoài cùng của ban công trông sang nhà hàng xóm phải cách ranh giới đất giữa hai nhà ít nhất là 2 m.
- Trong trường hợp người có quyền sử dụng lô đất liền kề có thỏa thuận thì trên bức tường xây cách ranh giới đất dưới 2 m có thể mở các lỗ cửa nhưng phải đề phòng trường hợp lửa cháy lan giữa hai nhà. Các lỗ cửa này phải là cửa cố định (chớp lật hoặc lắp chết kính) có mép ngoài cùng cao hơn mặt sàn ít nhất là 2 m. Khi thỏa thuận bị hủy bỏ; việc bít các lỗ cửa này là mặc nhiên, không phải thương lượng, xét xử. Riêng đối với các bức tường giáp khu đất công cộng (công viên, bãi đỗ xe) cơ quan quản lý xây dựng có thể cho phép mở một số cửa sổ cố định... Như vậy, chủ sở hữu bất động sản khi muốn mở cửa sổ, lỗ thông hơi phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật đã nêu ở trên.
Căn cứ quy định này, nếu việc ông A mở thêm cửa sổ trông thẳng sang nhà bà B gây bất tiện cho sinh hoạt gia đình của nhà bà B, thì các con bà B không đồng ý cho mở là phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.
12. Nhà ông H liền kề với nhà ông M. Trên phần đất giáp ranh giữa hai nhà, ông M có trồng 02 cây nhãn. Theo thời gian, cây phát triển, nhiều cành ngả sang phần đất nhà ông H. Lá cây rụng nhiều tích tụ làm hư mái ngói nhà ông H. Hơn nữa, một cây còn bị nghiêng có nguy cơ đe dọa đổ sập vào nhà ông H. Đã nhiều lần ông H sang thương lượng với ông M về việc chặt các cành vươn sang đất nhà ông H và đốn cây nhãn bị nghiêng đi nhưng ông M không đồng ý.
Pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?
Trả lời:
Vấn đề được hỏi quy định tại Điều 175 và Điều 177 của Bộ luật dân sự năm 2015. Theo đó, tại khoản 2 Điều 175 Bộ luật dân sự quy định về nghĩa vụ tôn trọng ranh giới giữa các bất động sản như sau: Người sử dụng đất được sửdụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác.
Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 177 Bộ luật dân sự năm 2015, trường hợp cây cối, công trình xây dựng có nguy cơ sập đổ xuống bất động sản liền kề và xung quanh thì chủ sở hữu tài sản thực hiện ngay các biện pháp khắc phục, chặt cây, sửa chữa hoặc dỡ bỏ công trình xây dựng đó theo yêu cầu của chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nếu không tự nguyện thực hiện thì chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho chặt cây, phá dỡ. Chi phí chặt cây, phá dỡ do chủ sở hữu cây cối, công trình xây dựng chịu.
Đối chiếu với quy định trên cho thấy, yêu cầu của ông H là chính đáng; nếu ông M không tự nguyện chặt cây có nguy cơ đổ xuống nhà ông H thì ông H có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền chặt cây, chi phí chặt cây do ông M chịu.
13. Tôi là con trưởng trong dòng họ Ngô và được giao trông coi quản lý nhà thờ họ trên mảnh đất 1000m2. Vì cần tiền cho con đi học, tôi có rao bán một phần mảnh đất đó và đã thoả thuận được với người mua về giá cả. Đúng lúc hai bên đo đất và chuẩn bị giao nhận tiền, thì anh em họ Ngô ra can ngăn không cho tôi bán và nói rằng nhà thờ họ thuộc sở hữu chung của dòng họ, nếu tôi muốn bán phải có ý kiến của tất cả mọi người trong họ.
Xin cho biết, theo quy định của pháp luật, tôi có quyền bán một phần mảnh đất đó không ?
Trả lời:
Đối với đất nhà thờ họ theo quy định của Luật đất đai năm 2013, thì thuộc quyền sử dụng chung của dòng họ. Theo khoản 5 Điều 100 Luật đất đai 2013 thì, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Điều 211 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định, sở hữu chung của cộng đồng là sở hữu của dòng họ, thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc, cộng đồng tôn giáo và cộng đồng dân cư khác đối với tài sản được hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên của cộng đồng cùng nhau đóng góp, quyên góp, được tặng cho chung hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằm mục đích thỏa mãn lợi ích chung hợp pháp của cộng đồng.
Các thành viên của cộng đồng cùng quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung theo thỏa thuận hoặc theo tập quán vì lợi ích chung của cộng đồng nhưng không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Tài sản chung của cộng đồng là tài sản chung hợp nhất không phân chia.
Đối chiếu với các quy định trên của pháp luật, thì việc anh tự ý bán đất thuộc sở hữu chung của dòng họ khi chưa được sự đồng ý của anh em trong dòng họ là trái với các quy định của pháp luật và việc dòng họ không đồng ý cho anh bán một phần mảnh đất đó là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.
14. Tôi cùng năm người bạn góp tiền mua chung một căn hộ chung cư để cho người nước ngoài thuê và giao ước với nhau căn hộ này là sở hữu chung của 3 người với một điều kiện chỉ bán căn hộ này chia tiền sau mười năm kể từ ngày mua. Sau khi cho thuê được bốn năm thì có một người trong số chúng tôi đòi bán nhà để chia tiền trước thời hạn vì giá nhà đất hiện nay đang có nhiều biến động, bốn người còn lại không đồng ý? Trong trường hợp này nên giải quyết như thế nào?
Trả lời:
Trước hết phải khẳng định rằng đây là tài sản chung của tất cả những người cùng góp vốn, vì vậy khi muốn phân chia khối tài sản chung này phải được sự đồng ý của những người cùng góp vốn.
Điều 219 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về vấn đề chia tài sản chung như sau:
- Trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; nếu tình trạng sở hữu chung phải được duy trì trong một thời hạn theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của luật thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó; khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì chủ sở hữu chung có yêu cầu chia có quyền bán phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác.
- Trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán và chủ sở hữu chung đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung và tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Như vậy, nếu các bạn đã thoả thuận chỉ bán căn hộ thuộc sở hữu chung của năm người để chia tiền cho các chủ sở hữu sau mười năm kể từ ngày mua, thì mỗi người trong số các bạn chỉ có quyền yêu cầu bán căn hộ đó để chia khi hết thời hạn đó.
15. Trong khi đào ao để nuôi cá, khi đào đến độ sâu khoảng 3m, gia đình ông A đào được một chiếc rương (hòm) gỗ, bên trong có đựng một chiếc lư đồng, bát đĩa, một số đồ thờ cúng khác bằng đồng đen. Khi phát hiện ra các đồ vật trên, ông A các con đến Ủy ban nhân dân xã khai báo nhưng các con ông không đồng ý và đem giấu các đồ vật đó trong nhà. Tuy nhiên, ông M, trưởng thôn đã biết việc gia đình ông A đào được chiếc rương gỗ và các đồ vật bên trong nên đến khuyên nhủ, động viên gia đình ông nên báo chính quyền để có hướng giải quyết phù hợp với quy định của pháp luật nhưng các con ông A vẫn không đồng ý. Hỏi, hành vi không trên của các con ông A có vi phạm pháp luật không?
Trả lời:
Tại khoản 1 Điều 187 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định, người phát hiện tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phải thông báo hoặc trả lại ngay cho chủ sở hữu; nếu không biết ai là chủ sở hữu thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật.
Căn cứ theo quy định trên của pháp luật, khi phát hiện chiếc rương với các đồ vật trong rương, gia đình ông A có trách nhiệm thông báo kịp thời và giao nộp toàn bộ số đồ vật được tìm thấy cho Ủy ban nhân dân xã hoặc công an xã.
Trường hợp những đồ vật mà gia đình ông phát hiện được xác định những di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia mà gia đình ông lại cố tình không thông báo, không giao nộp thì có thể bị xử lý hành chính theo quy định tại Điều 25 Nghị định số 158/2013/NĐ-CP, cụ thể:
Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không tự giác khai báo, cố tình chiếm đoạt di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được phát hiện.
Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật vi phạm.
16. Nhà bà M và bà H ở sát nhau. Hai nhà thoả thuận xây một bức tường rào chung. Bà M nhận lo toàn bộ gạch để xây tường, bà H nhận mua cát, ximăng. Vài năm sau, do có mâu thuẫn, xích mích giữa hai nhà, bà M tự ý cho con trai phá bức tường để lấy lại gạch. Bà M làm như vậy có đúng không?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 226 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định, trường hợp tài sản của nhiều chủ sở hữu khác nhau được trộn lẫn với nhau tạo thành vật mới không chia được thì vật mới là tài sản thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu đó, kể từ thời điểm trộn lẫn.
Đối chiếu với quy định nêu trên, về nguyên tắc, trước khi phá bức tường, bà M phải trao đổi, bàn bạc với bà H vì bức tường đã thuộc sở hữu chung của hai nhà kể từ thời điểm nó được xây lên, việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật (Điều 218 Bộ luật dân sự năm 2015). Do đó, việc làm của bà M là không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.
17. Trên đường đi làm về, ông A phát hiện thấy một hộp xốp to trên đoạn đường quốc lộ đoạn tiếp giáp ngõ vào nhà ông. Ông mở thùng xốp thì thấy bên trong có một bộ máy tính. Ông A đã mang về nhà cho con trai dùng. Sau đó một tháng, ông N có đến nhà ông A xin lại chiếc máy tính vì cho rằng hôm chuyển nhà đi qua đoạn đường này, do buộc đồ không cẩn thận nên đã làm rơi bộ máy tính. Tuy nhiên, ông A nói đã cho con trai bộ máy tính để dùng nên muốn trả ông N bằng tiền. Ông N không đồng ý.
Đề nghị cho biết quyền và nghĩa vụ của các bên trong trường hợp như thế này được giải quyết như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 230 Bộ luật dân sự 2015, người phát hiện tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại tài sản cho người đó; nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.
Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã đã nhận tài sản phải thông báo cho người đã giao nộp về kết quả xác định chủ sở hữu.
Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai về tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì quyền sở hữu đối với tài sản này được xác định như sau:
- Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bỏ quên có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người nhặt được được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp tài sản có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước;
- Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì tài sản đó thuộc về Nhà nước; người nhặt được tài sản được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.
Như vậy, việc ông A không thông báo cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc công an cơ sở gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại là vi phạm pháp luật. Ông A là người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật.
Khoản 1 Điều 166 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật”.
Khoản 1 Điều 579 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này”.
Như vậy, ông A có nghĩa vụ hoàn trả cho ông N chiếc máy tính. Trong trường hợp, ông A muốn hoàn trả bằng tiền thì phải thỏa thuận với ông N và được ông N đồng ý.
18. Gia đình bà A nuôi ngỗng để tăng thu nhập. Khi lùa ngỗng từ đồng về nhà, bà A phát hiện đã có thêm năm con ngỗng khác nhập vào đàn ngỗng nhà bà. Bà A đã đi hỏi các gia đình có nuôi ngỗng gần đó và báo với UBND xã thông báo công khai nhưng không thấy gia đình nào báo mất ngỗng. Bà A đã nuôi ghép số ngỗng đó cùng đàn ngỗng của nhà mình được gần hai tháng thì có ông B ở thôn bên đến tìm và nói rằng, năm con ngỗng đó là của nhà ông bị lạc nên muốn nhận lại. Bà A không đồng ý trả lại ngỗng cho ông B vì bà đã có công chăm sóc chúng gần hai tháng nên giữa hai bên xảy ra tranh chấp. Vậy, trường hợp này phải giải quyết như thế nào?
Trả lời:
Điều232 Bộ luật dân dân sự năm 2015 quy định về xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm bị thất lạc như sau:
“1. Trường hợp gia cầm của một người bị thất lạc mà người khác bắt được thì người bắt được phải thông báo công khai để chủ sở hữu gia cầm biết mà nhận lại. Sau 01 tháng, kể từ ngày thông báo công khai mà không có người đến nhận thì quyền sở hữu đối với gia cầm và hoa lợi do gia cầm sinh ra trong thời gian nuôi giữ thuộc về người bắt được gia cầm.
2. Trường hợp chủ sở hữu được nhận lại gia cầm bị thất lạc thì phải thanh toán tiền công nuôi giữ và chi phí khác cho người bắt được gia cầm. Trong thời gian nuôi giữ gia cầm bị thất lạc, người bắt được gia cầm được hưởng hoa lợi do gia cầm sinh ra và phải bồi thường thiệt hại nếu có lỗi cố ý làm chết gia cầm”.
Căn cứ vào quy định pháp luật nêu trên thì sau một tháng, kể từ ngày Ủy ban nhân dân xã thông báo công khai mà không có người đến nhận thì năm con ngỗng đó thuộc sở hữu của bà A.Như vậy, tính từ khi Ủy ban nhân dân xã thông báo công khai việc bà A phát hiện có 5 con ngỗng khác nhập vào đàn ngỗng nhà bà tới thời điểm ông B đến gặp bà A để đòi lại số ngỗng bị thất lạc là đã gần 2 tháng, nên bà A không phải trả lại năm con ngỗng đó cho ông B.
19. Ông A đi trồng sắn và bắt được 1 con trâu thả rông trên đồi nhà mình. Sau khi đem trâu về, ông đã thông báo cho Uỷ ban nhân dân xã để thông báo trên loa truyền thanh xã nhưng không ai thấy đến nhận. Nuôi được 1 tháng, con trâu sinh ra 1 con nghé. 5 tháng sau kể từ khi ông bắt được trâu thì ông B người xã bên tìm đến đòi trâu. Ông A chỉ đồng ý trả lại ông B con trâu vì cho rằng con nghé sinh ra trong thời gian ông nuôi trâu nên thuộc quyền sở hữu của ông.
Hỏi trường hợp này con nghé thuộc quyền sở hữu của ai?
Trả lời:
Theo Điều 231 Bộ luật dân sự 2015 về xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc quy định:
“1. Người bắt được gia súc bị thất lạc phải nuôi giữ và báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại. Sau 06 tháng, kể từ ngày thông báo công khai hoặc sau 01 năm đối với gia súc thả rông theo tập quán thì quyền sở hữu đối với gia súc và số gia súc được sinh ra trong thời gian nuôi giữ thuộc về người bắt được gia súc.
2. Trường hợp chủ sở hữu được nhận lại gia súc bị thất lạc thì phải thanh toán tiền công nuôi giữ và các chi phí khác cho người bắt được gia súc. Trong thời gian nuôi giữ gia súc bị thất lạc, nếu gia súc có sinh con thì người bắt được gia súc được hưởng một nửa số gia súc sinh ra hoặc 50% giá trị số gia súc sinh ra và phải bồi thường thiệt hại nếu có lỗi cố ý làm chết gia súc”.
Căn cứ vào quy định trên của pháp luật, ông A có quyền yêu cầu ông B hoàn trả tiền công nuôi giữ trâu và các chi phí khác (nếu có) cho ông A và hưởng ½ giá trị của con nghé.
20. Nhà ông B và nhà ông T thầu hai đầm ở sát nhau để nuôi cá. Sau một trận mưa rào, cá từ đầm nhà ông B tràn sang đầm nhà ông T. Ngay sau đó, ông T bắt cá trong đầm nhà mình để đem bán. Ông B sau khi biết chuyện đã yêu cầu ông T phải trả lại cá cho nhà ông. Xin hỏi pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?
Trả lời:
Ông B có quyền yêu cầu ông T trả lại số cá tràn sang đầm nhà ông T nếu cá nhà ông có dấu hiệu khác biệt, không giống với cá được nuôi ở đầm nhà ông T (giống cá, thời kỳ phát triển của cá…).
Điều 233 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định, khi vật nuôi dưới nước của một người di chuyển tự nhiên vào ruộng, ao, hồ của người khác thì thuộc sở hữu của người có ruộng, ao, hồ đó. Trường hợp vật nuôi dưới nước có dấu hiệu riêng biệt để có thể xác định vật nuôi không thuộc sở hữu của mình thì người có ruộng, ao, hồ đó phải thông báo công khai để chủ sở hữu biết mà nhận lại. Sau 01 tháng, kể từ ngày thông báo công khai mà không có người đến nhận thì quyền sở hữu vật nuôi dưới nước đó thuộc về người có ruộng, ao, hồ.
21. Nhà ông H ở phía trong, nhà ông S ở phía ngoài. Theo thỏa thuận ông S dành cho ông H một lối đi ra đến đường công cộng và ông H đã thanh toán cho ông S một khoản tiền. Nhưng khi ông S bán ngôi nhà của mình cho anh K thì anh K lại không đồng ý cho ông H sử dụng lối đi đó nữa. Xin hỏi anh K có được quyền làm như vậy không?
Trả lời:
Điều 245 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
Quyền đối với bất động sản liền kề là quyền được thực hiện trên một bất động sản (gọi là bất động sản chịu hưởng quyền) nhằm phục vụ cho việc khai thác một bất động sản khác thuộc quyền sở hữu của người khác (gọi là bất động sản hưởng quyền).
Điều 247 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
Quyền đối với bất động sản liền kề có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân và được chuyển giao khi bất động sản được chuyển giao, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
Việc chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu tài sản cho người khác không phải là căn cứ để chấm dứt các quyền đối với bất động sản liền kề theo quy định tại Điều 256 Bộ luật dân sự năm 2015.
Đối chiếu với các quy định trên, việc ông S bán nhà cho anh K không làm chấm dứt quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề của ông H. Việc làm của anh K vi phạm quy định của pháp luật hiện hành.
22. Nhà bà V và nhà ông T sát cạnh nhau. Khi sửa nhà, bà V làm thêm mái tôn che mưa nhưng lại không làm đường ống thoát nước. Mỗi khi trời mưa nước từ mái tôn nhà bà V lại chảy sang mái nhà ông T và thấm xuống các phòng bên dưới. Khi ông T yêu cầu bà V phải làm đường ống thoát nước thì bà V lại cho rằng việc nhà ông T bị thấm là do xử lý chống thấm trần nhà không tốt, việc này không liên quan đến bà. Xin cho biết pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?
Trả lời:
Trước khi bà V sửa nhà, mái nhà ông T không bị thấm. Vì vậy, nguyên nhân việc nhà ông T bị thấm khi trời mưa là do nước mưa chảy từ mái tôn nhà bà V sang. Ông T đề nghị bà V là đường ống thoát nước mưa là hoàn toàn chính đáng.
Việc bà V không làm đường ống thoát nước mưa, để nước chảy sang trần nhà ông T là không phù hợp với quy định về nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc thoát nước mưa.
Theo quy định tại Điều 250 Bộ luật dân sự năm 2015 về nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc thoát nước mưa thì chủ sở hữu nhà, công trình xây dựng khác phải lắp đặt đường dẫn nước sao cho nước mưa từ mái nhà, công trình xây dựng của mình không được chảy xuống bất động sản của chủ sở hữu bất động sản liền kề.
23. Nhà ông K và nhà ông H ở gần nhau chung sân. Ông K đang sửa nhà, cống thoát nước ở sân lại tắc nên nước thải tràn ra phía sân trước nhà ông H. Ông H yêu cầu ông K thông tắc cống hoặc làm tạm rãnh thoát nước ra nơi quy định nhưng ông K cứ chây ỳ. Xin cho biết pháp luật có quy định về vấn đề này không?
Trả lời:
Điều 251 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc thoát nước thải như sau:
Chủ sở hữu nhà, công trình xây dựng khác phải làm cống ngầm hoặc rãnh thoát nước để đưa nước thải ra nơi quy định, sao cho nước thải không chảy tràn sang bất động sản của chủ sở hữu bất động sản liền kề, ra đường công cộng hoặc nơi sinh hoạt công cộng.
Căn cứ quy định này, yêu cầu của ông H là hợp lý và đúng pháp luật. Ông K có nghĩa vụ thực hiện yêu cầu của ông H.
24. Ông A có thửa đất 215m2 đã tách làm 2 Giấy chứng nhận quyền sở hữu đất (một sổ 65m2, một sổ 150m2). Năm 2013, ông A chuyển nhượng cho bà B nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông A gồm thửa đất 65m2 và 15m2 đất trong thửa đất 150m2 để làm lối đi. Trước khi chuyển nhượng, 15m2 đất này là lối đi chung của 2 thửa đất, nhưng do ông A còn lối đi khác nên chuyển nhượng luôn lối đi này cho bà B. Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà B thì Ủy ban nhân dân không thể hiện trong đó có lối đi chung với ông A mà nhập luôn diện tích lối đi vào thửa đất của bà B). Năm 2014, ông A chuyển nhượng 60m2 đất cho ông C. Sau khi làm thủ tục sang tên và nhận bàn giao đất, ông C mở cổng ra lối đi của bà B (đất của ông C chỉ có thể mở cổng ra lối đi của bà B hoặc mở lối đi khác trên phần đất của ông A). Khi ông C làm cổng, bà B đã đóng cổng phía ngoài và không cho ông C đi chung. Hai bên xảy ra tranh chấp. Trong trường hợp này, theo quy định của pháp luật phải giải quyết thế nào?
Trả lời:
Trong tình huống trên, bà B đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông A bao gồm diện tích 65m2 và 15m2. Thủ tục chuyển nhượng đã hoàn tất theo luật định nên quyền sử dụng đối với toàn bộ thửa đất 80m2 là của bà B.
Do ông C không tìm hiểu kỹ vị trị và lối đi trước khi mua đất nên đã nhận chuyển quyền sử dụng đất mà không có lối đi. Điều 254 Bộ luật dân sự 2015 về quyền về lối đi qua quy định:
“1. Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc khôngđủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.
Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.
Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác xác định.
3. Trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù”.
Như vậy, ông C có quyền yêu cầu ông A dành một lối đi trên phần đất của ông A ra đường công cộng cho mình (vì ông C mua đất của ông A) hoặc thoả thuận với bà B để cho mình đi chung và phải đền bù thiệt hại cho người đã tạo lối đi cho ông. Việc thiết lập quyền sử dụng này do các bên tự thỏa thuận hoặc ông C có thể kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.
Một trong hai ông bà là ông A hoặc bà B có nghĩa vụ phải mở lối đi cho ông C tùy thuộc vào mức độ thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi. Ngược lại ông C sẽ phải đền bù cho người tạo lối đi cho mình tuỳ vào thoả thuận giữa hai bên.
25. Nhà ông T ở phía trong, nhà ông B ở phía ngoài. Ông T muốn mắc điện thoại nhưng lại phải kéo dây qua nhà ông B. Ông B không đồng ý vì cho rằng như thế ảnh hưởng đến mỹ quan nhà mình. Xin cho biết pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?
Trả lời:
Điều 255 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền mắc đường dây tải điện, thông tin liên lạc qua bất động sản khác như sau :
Chủ sở hữu bất động sản có quyền mắc đường dây tải điện, thông tin liên lạc qua bất động sản của các chủ sở hữu khác một cách hợp lý, nhưng phải bảo đảm an toàn và thuận tiện cho các chủ sở hữu đó; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Căn cứ quy định nêu trên, ông T có quyền mắc đường dây tải điện, thông tin liên lạc qua nhà ông B một cách hợp lý và phải bảo đảm an toàn và thuận tiện cho sinh hoạt của gia đình ông B.
26. Do vị trí của thửa đất mà đường ống thoát nước nhà ông M đi ngang qua nhà ông C để ra đến đường thoát nước công cộng. Ông D mua lại căn nhà ông C và xây nhà mới. Trong quá trình thi công đã san lấp luôn đường thoát nước sinh hoạt nhà ông M, khiến cho gia đình ông M gặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày.
Ông M có thể yêu cầu ông D dành cho nhà mình một lối thoát nước sinh hoạt thay thế đường thoát nước sinh hoạt đã bị san lấp không?
Trả lời:
Việc ông D san lấp bít kín đường thoát nước đã có từ trước của nhà ông M là vi phạm pháp luật dân sự. Điều 252 Bộ luật dân sự 2015 quy định quyền về cấp, thoát nước qua bất động sản liền kề như sau:
"Trường hợp do vị trí tự nhiên của bất động sản mà việc cấp, thoát nước buộc phải qua một bất động sản khác thì chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua phải dành một lối cấp, thoát nước thích hợp, không được cản trở hoặc ngăn chặn dòng nước chảy.
Người sử dụng lối cấp, thoát nước phải hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua khi lắp đặt đường dẫn nước; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Trường hợp nước tự nhiên chảy từ vị trí cao xuống vị trí thấp mà gây thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản có nước chảy qua thì người sử dụng lối cấp, thoát nước không phải bồi thường thiệt hại".
Như vậy, nếu căn nhà của ông M có vị trí tự nhiên mà việc thoát nước buộc phải qua bất động sản của ông D thì ông D phải dành một lối thoát nước thích hợp, không được cản trở hoặc ngăn chặn dòng nước chảy.
Tuy nhiên, ông M phải hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại cho nhà ông D khi lắp đặt đường thoát nước, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
27. Ông C có thửa ruộng trồng lúa ven chân đồi. Nằm giữa cách nguồn nước tưới tiêu và thửa ruộng của ông là thửa ruộng của ông T. Trước đây, khi ông C và ông T hoà thuận với nhau, ông C thường dẫn và tháo nước nước vào ruộng nhà mình bằng cách đi qua ruộng nhà ông T. Nay ông C và ông T phát sinh mâu thuẫn gay gắt nên ông T cấm không cho ông C dẫn nước đi qua ruộng nhà mình. Xin hỏi pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?
Trả lời:
Điều 253 Bộ luật dân sự năm 2015 về quyền về tưới nước, tiêu nước trong canh tác quy định:
“Người có quyền sử dụng đất canh tác khi có nhu cầu về tưới nước, tiêu nước, có quyền yêu cầu những người sử dụng đất xung quanh để cho mình một lối dẫn nước thích hợp, thuận tiện cho việc tưới, tiêu; người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó; nếu người sử dụng lối dẫn nước gây thiệt hại cho người sử dụng đất xung quanh thì phải bồi thường”.
Như vậy căn cứ vào Điều 253 Bộ luật dân sự năm 2015 và các tình tiết được nêu trên, có thể nói rằng ông T mặc dù là người chủ của thửa ruộng mà ông C dẫn nước đi qua nhưng ông T không có quyền ngăn cấm việc ông C dẫn nước qua ruộng của mình để tưới tiêu cho ruộng của nhà ông C. Do vậy, việc ông T đơn phương ngăn cấm không cho ông C dẫn nước qua ruộng nhà mình là vi phạm pháp luật.
III. GIAO DỊCH DÂN SỰ, NGHĨA VỤ DÂN SỰ VÀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
28. Con trai tôi năm nay 17 tuổi. Cháu được ông bà nội cho một số tiền lớn. Gần đây do bạn bè rủ rê, lôi kéo nên cháu nhất định đòi chúng tôi trao số tiền nói trên để cháu đầu tư kinh doanh. Chúng tôi đã khuyên bảo và giải thích cho cháu nhưng cháu không nghe vì cháu cho rằng số tiền này là tiền riêng của cháu nên cháu có toàn quyền quyết định. Về phía gia đình chúng tôi thấy việc kinh doanh này hết sức mạo hiểm nên rất lo lắng và không muốn cho cháu thực hiện.
Do vậy chúng tôi muốn biết chúng tôi có quyền can thiệp vào quyết định của cháu hay không?
Trả lời:
Theo Điều 20 Bộ luật dân sự năm 2015, người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi là người chưa thành niên. Những người này chưa phải là người đã phát triển đầy đủ và toàn diện về trí tuệ, tuy nhiên, họ là người đã có trình độ nhất định về nhận thức và hiểu biết về cuộc sống.
Xuất phát từ việc đánh giá người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi là có trình độ nhất định về nhận thức và hiểu biết về cuộc sống nên pháp luật cho phép họ được thực hiện một số giao dịch nhất định cũng như có quyền định đoạt nhất định tài sản riêng của mình. Trên cơ sở này khoản 4 Điều 21 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 77 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi, nếu có tài sản riêng thì có quyền định đoạt tài sản riêng của mình, tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi của những người này trong trường hợp họ có thể có những quyết định thiếu chín chắn do khả năng nhận thức chưa thật đầy đủ, pháp luật cũng quy định việc người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi khi thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy dịnh của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.
Trong trường hợp nêu trên do con của ông bà mới 17 tuổi và cháu lại muốn dùng số tiền lớn mà ông cháu đã cho để tiến hành đầu tư kinh doanh nên nhất thiết cháu phải có sự đồng ý của ông bà. Do vậy, sự can thiệp của ông bà là đúng và được pháp luật cho phép.
29. A là hàng xóm của B, A bán cho B chiếc xe máy với giá 30 triệu đồng, có làm hợp đồng mua bán xe máy viết tay nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Một tuần sau, tình cờ có người bạn lâu ngày đến chơi và nói A không nên bán chiếc xe máy đó vì chiếc xe có biển số đẹp, màu sơn hợp phong thủy nên đem lại nhiều may mắn trong việc buôn bán của A. Sau đó, A sang gặp B đề nghị được lấy lại xe máy, đồng thời sẽ trả lại B 30 triệu tiền bán xe. B không đồng ý trả xe, vì mặc dù biết giá 30 triệu là đắt nhưng bản thân B cũng rất thích chiếc xe với biển số đẹp nên không đắn đo về giá cả khi mua xe. Trường hợp này sẽ được giải quyết như thế nào?
Trả lời:
Trường hợp này, việc mua bán chỉ được thể hiện dưới hình thức hợp đồng mua bán xe ký tay giữa hai bên đã vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, cụ thể như sau:
Điều 117 Bộ luật dân sự 2015 quy định giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
- Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
- Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.
Tại điểm g khoản 1 Điều 10 Thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ Công an quy định về đăng ký xe như sau: “Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực”.
Điều 119 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó”.
Theo đó, B mua xe của A có lập hợp đồng mua bán xe và có chữ ký của hai bên nhưng không được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật nên đã vi phạm pháp luật về hình thức hợp đồng.
Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:
1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”.
Trường hợp này, văn bản mua bán có vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực, nhưng bên bán và bên mua đã thực hiện nghĩa vụ giao tài sản và giao tiền thì anh B là bên mua có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó và không phải trả lại cho anh A là bên bán chiếc xe máy.
30. A là người muốn mua xe máy của B nhưng biết B không muốn bán xe. Lợi dụng việc B không uống được rượu, A đã mời B đi uống rượu và chuốc rượu cho B thật say rồi yêu cầu B ký vào giấy bán xe cho mình. Vì quá say rượu, B đã ký vào hợp đồng mua bán xe máy. Cùng với việc ký kết hợp đồng mua bán xe đó, A và B cũng ngay lập tức thực hiện việc giao cho nhau xe và tiền.
Sau đó, B gặp A để trả tiền và muốn lấy lại xe vì cho rằng hôm đó say rượu, không tỉnh táo nên mới đồng ý bán xe. A không đồng ý với yêu cầu của B. Hỏi B có thể đòi lại được chiếc xe máy mà B đã bán cho A hay không?
Trả lời:
Theo tình huống nêu trên, mặc dù không có tình tiết cụ thể nói đến năng lực của A và B trong lĩnh vực xác lập và thực hiện hợp đồng nên ta có thể giả thiết A và B đều là những người mà theo pháp luật quy định được quyền xác lập, thực hiện hợp đồng mua bán xe máy.
Tuy nhiên, mặc dù coi A và B là những người được quyền xác lập, thực hiện hợp đồng mua bán xe máy nhưng chúng ta cũng cần phải khẳng định rằng yếu tố này không phải là yếu tố duy nhất để đi đến kết luận sau khi đã tỉnh rượu B có thể đòi lại được chiếc xe máy mà B đã bán cho A. Bởi theo Điều 123 Bộ luật dân sự năm 2015, một người mặc dù có năng lực hành vi dân sự nhưng nếu ở thời điểm xác lập giao dịch dân sự do những nguyên nhân khác nhau mà người này không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì sau đó người này có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự mà mình đã xác lập là vô hiệu.
Không nhận thức và điều khiển được hành vi của mình được hiểu là người thực hiện hành vi có những biểu hiện thiếu lôgic, bất hợp lý mà bất cứ một người bình thường nào trong một hoàn cảnh bình thường sẽ không hành động như vậy.
Như vậy, trong trường hợp này cả anh A và anh B đều là người có năng lực hành vi dân sự nhưng do anh B quá say rượu nên ở thời điểm xác lập hợp đồng mua bán xe máy anh B đã không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Mặt khác, việc anh A xác lập hợp đồng mua bán xe máy với anh B sẽ không thể xảy ra nếu anh B không rơi vào trạng thái say rượu bởi theo tình tiết đã nêu trong phần câu hỏi anh A không muốn bán xe máy.
Trường hợp này, hợp đồng mua bán xe giữa A và B sẽ không có hiệu lực pháp luật bởi nó đã được xác lập trên cơ sở một bên chủ thể không nhận thức được hành vi của mình (B vì quá say rượu đã ký hợp đồng). Điều mà ở trong tình trạng không say rượu B sẽ không bao giờ xác lập hợp đồng mua, bán xe đó.
Ngoài ra, trường hợp này chúng ta nhận thấy hợp đồng mua bán xe máy nói trên được xác lập trên cơ sở việc A đã cố tình lợi dụng việc B không uống được rượu nên đã mời B đi uống rượu và chuốc rượu cho B thật say nhằm làm cho B không còn khả năng tự chủ khi xác lập hợp đồng. Đây là việc làm có tính toán của A với động cơ xấu, do vậy theo khoản 4 Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015 nếu vì việc giao kết hợp đồng này mà B bị thiệt hại thì A còn có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại cho B.
31. A 14 tuổi cần tiền chơi điện tử nên đã bán cho ông K là người thợ sửa xe đạp ở đầu ngõ phố nơi A đang ở chiếc xe đạp mini Nhật với giá 1.500.000 đồng. Sau khi bán xe cho ông K được một tuần, cha mẹ A phát hiện ra chiếc xe đạp của A không còn. Sau nhiều lần tra hỏi, cha mẹ A biết được A đã bán chiếc xe nói trên cho ông K. Thấy vậy, cha mẹ A liền tìm gặp ông K nói chuyện và xin chuộc lại chiếc xe nói trên nhưng ông K không đồng ý vì cho rằng việc mua bán giữa ông và A là hoàn toàn tự nguyện và ông lại rất thích chiếc xe đó. Cha mẹ A lại cho rằng yêu cầu chuộc lại chiếc xe từ ông K là hoàn toàn chính đáng bởi con của họ (A) còn nhỏ dại nên chưa hiểu biết việc đã làm.
Pháp luật quy định về trường hợp này như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015 để giao dịch dân sự (hợp đồng mua bán xe đạp mini Nhật) có hiệu lực pháp luật, giao dịch này phải thoả mãn các điều kiện nhất định.
Đối với em A:
Theo Điều 21 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
A là người từ đủ 6 đến dưới 18 tuổi, do vậy A chỉ có thể tự mình xác lập, thực hiện những giao dịch dân sự nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
Việc A “cần tiền chơi điện tử” nên “bán xe” không phải là một giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu học tập, sinh hoạt hàng ngày của A. Ngoài ra, việc bán xe (hợp đồng bán xe) do xác lập, thực hiện hoàn toàn không được sự đồng ý của cha mẹ (người đại diện theo pháp luật).
Đối với ông K:
Ông K là thợ sửa xe đạp ở đầu ngõ phố nơi A đang ở nên ông K là người biết và buộc phải biết A là người chưa thành niên. Do đó, Việc ông K xác lập, thực hiện với A hợp đồng mua bán xe đạp với A cho thấy ông K đã cố ý (có lỗi) xác lập hợp đồng mua bán nói trên nhằm thu lợi.
Mặt khác, theo Điều 127 và khoản 1 Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005, về nguyên tắc một giao dịch dân sự sẽ vô hiệu khi thiếu một trong các điều kiện:
- Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
- Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
- Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Vì các lý do nêu trên, có thể nhận thấy giao dịch được xác lập giữa A và ông K (hợp đồng mua bán chiếc xe đạp mini Nhật với giá 1.500.000 đồng) là vô hiệu do thiếu điều kiện người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập.
Việc cha mẹ A có quyền yêu cầu ông K cho chuộc lại chiếc xe đạp ông đã mua của K là phù hợp với quy định của pháp luật. Nếu ông K không thực hiện, cha mẹ A có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu. Theo khoản 1 Điều 132 Bộ luật dân sự năm 2015, thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là hai năm, kể từ ngày người đại diện của người chưa thành niên biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch.
32. Anh B cầm cố chiếc xe đạp để vay của ông A 500.000 đồng. Ông A thường xuyên sử dụng chiếc xe đạp của anh B và còn cho người khác mượn để sử dụng. Ông A có quyền làm như vậy không?
Trả lời:
Bên nhận cầm cố có những nghĩa vụ sau đây (Điều 313 Bộ luật dân sự năm 2015):
- Bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố; nếu làm mất, thất lạc hoặc hư hỏng tài sản cầm cố thì phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố.
- Không được bán, trao đổi, tặng cho, sử dụng tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác.
- Không được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.
Bên nhận cầm cố có các quyền sau đây (Điều 314 Bộ luật dân sự năm 2015):
- Yêu cầu người đang chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố trả lại tài sản đó.
- Xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
- Được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu có thỏa thuận.
- Được thanh toán chi phí hợp lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại tài sản cho bên cầm cố.
Như vậy, theo quy định của pháp luật ông A không được cho mượn và cũng không được sử dụng chiếc xe đạp nếu không có sự thỏa thuận với anh B.
33. Chị N có một mảnh đất có diện tích 60m2 chị thoả thuận chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất này cho anh T lấy 24 cây vàng. Anh T đã đặt cọc cho chị 8 triệu đồng. Sau khi nhận đặt cọc của anh T, chị N thay đổi ý định không chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất này nữa và trả lại anh T số tiền 8 triệu đồng đặt cọc. Anh T không đồng ý, anh yêu cầu ngoài số tiền đặt cọc, chị N còn phải chịu phạt 8 triệu đồng nữa.
Yêu cầu của anh T đúng hay sai?
Trả lời:
Bộ luật dân sự nước ta quy định, một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là đặt cọc. Theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015, đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Để đảm bảo thực hiện việc xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chị N và anh T đã thoả thuận số tiền đặt cọc là 8 triệu đồng Việt Nam. Ngoài thoả thuận này anh T và chị N không có thoả thuận gì khác. Việc chị N thay đổi nghĩa vụ đã cam kết (không chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh T nữa), sẽ dẫn đến việc anh T có quyền yêu cầu chị N ngoài việc phải trả lại số tiền đặt cọc là 8 triệu đồng Việt Nam, còn phải trả thêm 8 triệu đồng Việt Nam. Như vậy, yêu cầu của anh T trong trường hợp này là hoàn toàn phù hợp với pháp luật.
34. Anh B có thuê tôi vận chuyển một lô hàng đến địa điểm Y trong thời hạn 36 giờ. Nhưng do trời mưa to, đường bị ngập lụt nên tôi đến chậm 3 tiếng đồng hồ. Anh B bắt tôi phải chịu phạt do thực hiện sai hợp đồng. Xin hỏi trong trường hợp này tôi có phải chịu trách nhiệm dân sự không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 351 Bộ luật dân sự năm 2015 thì, bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.
Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.
Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.
Như vậy, trong trường hợp này, việc bạn thực hiện không đúng thời hạn hợp đồng là do sự kiện bất khả kháng nên nếu trong hợp đồng thuê vận chuyển không có thỏa thuận khác thì bạn không phải chịu phạt vi phạm.
35. Ông K và ông H là người dân sống trong cùng một thôn. Một hôm, ông K mượn của ông H chiếc xe để lên lên tỉnh công tác. Khi vào chợ tỉnh mua sắm, ông K không gửi xe và cũng quên không khoá xe. Do sơ ý nói trên, chiếc xe ông mượn không may đã bị kẻ gian lấy cắp. Giá trị chiếc xe là 1 triệu đồng.
Ông K mới chỉ bồi thường cho ông H được 500 nghìn đồng, số tiền còn lại ông K không trả, mặc dù ông H đã nhiều lần yêu cầu thanh toán, bởi ông K cho rằng đây là rủi ro, nay ông đã trả cho ông H 500 nghìn đồng là ông đã hết sức thiện chí với ông H.
Ông H có thể đòi ông K trả thêm 500 nghìn đồng hay không?
Trả lời:
Trường hợp được nêu trong phần câu hỏi là trường hợp ông H và ông K đã xác lập một hợp đồng mượn tài sản.
Theo Điều 496 Bộ luật dân sự năm 2015, bên mượn có những nghĩa vụ sau:
“1. Giữ gìn, bảo quản tài sản mượn, không được tự ý thay đổi tình trạng của tài sản; nếu tài sản bị hư hỏng thông thường thì phải sửa chữa.
2. Không được cho người khác mượn lại, nếu không có sự đồng ý của bên cho mượn.
3. Trả lại tài sản mượn đúng thời hạn; nếu không có thỏa thuận về thời hạn trả lại tài sản thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay sau khi mục đích mượn đã đạt được.
4. Bồi thường thiệt hại, nếu làm mất, hư hỏng tài sản mượn.
5. Bên mượn tài sản phải chịu rủi ro đối với tài sản mượn trong thời gian chậm trả”.
Trong trường hợp được nêu trong phần câu hỏi, ông K là người đã làm mất chiếc xe đạp do ông không gửi xe và cũng không khoá xe nên theo khoản 4 Điều 496 Bộ luật dân sự năm 2015 ông K phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông H. Do đó, Ông H có quyền yêu cầu ông K phải trả nốt 500 nghìn đồng để bồi thường thiệt hại đã gây ra cho ông H.
Mặt khác, tình huống đã nêu, chiếc xe đạp là tài sản của ông H và do vậy ông H có thể thực hiện các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu tài sản của mình theo quy định tại Điều 164 của Bộ luật dân sự năm 2015, đó là:
- Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật.
- Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
36. Chị T có một mảnh đất và giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất do chị đứng tên. Trong một chuyến đi làm ăn, buôn bán, chị T đã bị lừa bán sang Trung Quốc. Sau 10 năm kể từ ngày không có tin tức gì về chị T, mẹ của chị T đã chuyển nhượng quyền sử dụng mảnh đất đó cho anh C và anh C đã sử dụng mảnh đất đó đến nay. Hiện nay, chị T đã trở về Việt Nam. Xin hỏi chị T có được đòi lại mảnh đất của mình không?
Trả lời:
Theo khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015, người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Toà án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong các trường hợp sau đây:
- Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
- Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
- Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
- Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này.
Theo Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015, quan hệ tài sản của người bị Toà án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Do chị T không để lại di chúc nên việc thừa kế di sản của chị T sẽ được giải quyết theo pháp luật. Theo điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau từ tài sản mà người đó để lại. Tuy nhiên theo tình huống đã nêu trong phần câu hỏi không thấy có tình tiết gia đình của T thực hiện những thủ tục để yêu cầu Tòa án tuyên chị T chết, vì thế có thể giả thiết rằng:
- Gia đình của T đã không thực hiện những thủ tục để yêu cầu Tòa án tuyên bố chị T đã chết. Trong trường hợp này, gia đình chị T không được quyền định đoạt khối tài sản của chị T. Do vậy, việc gia đình chị T đã chuyển nhượng mảnh đất thuộc quyền sử dụng của chị T là trái pháp luật và chị có quyền yêu cầu hoàn trả tài sản đó.
- Gia đình của T đã thực hiện những thủ tục để yêu cầu Tòa án tuyên bố chị T đã chết và bản án, quyết định tuyên bố chị T chết đã có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp này, gia đình chị T (mẹ chị) có quyền định đoạt khối tài sản của chị T (mảnh đất thuộc quyền sử dụng của chị T). Vì thế, việc gia đình chị T đã chuyển nhượng mảnh đất thuộc quyền sử dụng của chị T cho anh C là hợp pháp. Tuy nhiên, nay chị còn sống và đã trở về nên theo khoản 3 Điều 73 Bộ luật dân sự năm 2015,chị T có quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn. Tuy nhiên, nếu mảnh đất đó đã được chuyển nhượng trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật thì chị T chỉ có quyền yêu cầu hoàn trả giá trị hiện còn của mảnh đất đó.
37. Ông Q bán cho ông H chiếc xe máy cũ và các bên không có thỏa thuận về việc bên nào phải chịu chi phí có liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu. Sau khi nhận xe máy và các giấy tờ liên quan, ông H đến làm thủ tục chuyển quyền sở hữu, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu nộp thuế chuyển quyền sở hữu. Nhưng ông H cho rằng trong hợp đồng không có thỏa thuận cho nên ông đã yêu cầu ông Q là bên bán phải thực hiện nghĩa vụ này. Pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?
Trả lời:
Điều 442 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định về chi phí vận chuyển và chi phí liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu thì bên bán phải chịu chi phí vận chuyển đến địa điểm giao tài sản và chi phí liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu.
Như vậy, khi ông Q bán cho ông H chiếc xe máy cũ và các bên không có thỏa thuận về việc bên nào phải chịu chi phí có liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu thì chi phí đó sẽ thuộc về ông Q là bên bán. Vì vậy, khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu nộp thuế chuyển quyền sở hữu, ông H đã cho rằng trong hợp đồng không có thoả thuận về vấn đề này cho nên ông đã yêu cầu ông Q phải thực hiện nghĩa vụ đó trước cơ quan có thẩm quyền là đúng với quy định của pháp luật hiện hành.
38. Ông A ký hợp đồng với ông B mua gỗ lim để xây dựng nhà. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông A đã thanh toán trước cho ông B 1/4 giá trị hợp đồng, số còn lại sẽ được giao khi ông A nhận gỗ. Tuy nhiên, khi nhận gỗ, ông A phát hiện ông B giao gỗ không đúng loại gỗ thỏa thuận trong hợp đồng nên yêu cầu ông B trả lại số tiền đã tạm ứng. Ông B không đồng ý trả lại tiền nên hai bên xảy ra tranh chấp. Cho biết hướng giải quyết trường hợp này như thế nào?
Trả lời:
Trong trường hợp này, ông B không thực hiện đúng nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng, cụ thể là giao gỗ không đúng chủng loại. Căn cứ theo quy định tại Ðiều 439 Bộ luật dân sự năm 2015 về trách nhiệm giao vật không đúng chủng loại thì trường hợp tài sản được giao không đúng chủng loại thì bên mua (ông A) có một trong các quyền sau đây:
- Nhận và thanh toán theo giá do các bên thỏa thuận.
- Yêu cầu giao tài sản đúng chủng loại và bồi thường thiệt hại.
- Hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu việc giao không đúng chủng loại làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết hợp đồng.
Trường hợp tài sản gồm nhiều chủng loại mà bên bán không giao đúng với thỏa thuận đối với một hoặc một số loại thì bên mua có thể hủy bỏ phần hợp đồng liên quan đến loại tài sản đó và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
39. Anh D bán xe ôtô cho chị H. Hai bên làm thủ tục công chứng hợp đồng mua bán xe và là thủ tục bàn giao xe ngay sau khi ký hợp đồng công chứng. Khi chị H điều khiển xe ôtô về thì gây tai nạn.
Hãy cho biết, việc chuyển giao quyền sở hữu đối với xe ôtô trong tình huống trên? Và trách nhiệm của anh D trong việc xe gây tai nạn?
Trả lời:
Theo Khoản 3 Điều 6 Thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ công an quy định về đăng ký xe: “Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm chứng từ chuyển quyền sở hữu xe, tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe phải đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục đăng ký sang tên, di chuyển xe”. Theo quy định trên, trong vòng 30 ngày kể từ ngày hợp đồng mua bán xe được công chứng, chị H phải làm thủ tục đăng ký sang tên xe.
Điều 441 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định thời điểm chịu rủi ro trong hợp đồng mua bán tài sản như sau:
“1. Bên bán chịu rủi ro đối với tài sản trước khi tài sản được giao cho bên mua, bên mua chịu rủi ro đối với tài sản kể từ thời điểm nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
2. Đối với hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu thì bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, trừ trường hợp có thỏa thuận khác".
Do đó, quyền sở hữu chiếc xe máy chỉ được chuyển cho chị H khi chị H hoàn thành thủ tục đăng ký xe theo quy định.
Điều 441 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định thời điểm chịu rủi ro như sau:
“1. Bên bán chịu rủi ro đối với tài sản trước khi tài sản được giao cho bên mua, bên mua chịu rủi ro đối với tài sản kể từ thời điểm nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
2. Đối với hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu thì bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
Về trách nhiệm khi người sử dụng xe gây tai nạn: Pháp luật quy định trách nhiệm của người có hành vi gây tai nạn, chứ không xử lý đối với chủ xe (Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ: “1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm…”).
Tuy nhiên, nếu tại thời điểm gây tai nạn, đăng ký xe vẫn mang tên anh D (chị H chưa chuyển quyền sở hữu theo quy định) thì anh cần lưu ý vấn đề sau đây:
Trong trường hợp người điều khiển xe gây tai nạn mà nguyên nhân xuất phát từ việc xe không đảm bảo chất lượng để lưu hành theo quy định thì anh D có thể có trách nhiệm liên quan. Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “bên bán có nghĩa vụ cung cấp cho bên mua thông tin cần thiết về tài sản mua bán và hướng dẫn cách sử dụng tài sản đó”( Ðiều 443);” và “Bên bán phải bảo đảm giá trị sử dụng hoặc các đặc tính của vật mua bán;” (Điều 445). Trường hợp anh D vi phạm các nghĩa vụ trên, vì vậy mà chị H không thể biết được việc xe không đảm bảo chất lượng để lưu hành, dẫn đến việc gây tai nạn khi điều khiển xe thì anh D cũng có trách nhiệm liên quan.
40. A đến cửa hàng của B để mua 1 bộ giường tủ trị giá 20 triệu đồng. A đã thanh toán cho B toàn bộ số tiền. Do trời đã tối nên hai bên thỏa thuận sáng hôm sau, B sẽ giao hàng đến tận nhà cho A. Tuy nhiên, đêm hôm đó, do bị chập điện nên cửa hàng của B bị cháy, bộ giường tủ bị hư hỏng không còn giá trị như ban đầu. A yêu cầu B đền bù cho mình một bộ giường tủ khác cùng giá trị, nhưng B không đồng ý vì cho rằng việc cháy cửa hàng không do lỗi của B và A đã mua thì A phải chịu rủi ro. Hỏi, pháp luật quy định về vấn đề này như thế nào?
Trả lời:
A và B đã giao kết hợp đồng mua bán tài sản, theo đó A có nghĩa vụ trả tiền và nhận tài sản còn B có nghĩa vụ nhận tiền và giao tài sản cho A. Tại Điều 441 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“ 1. Bên bán chịu rủi ro đối với tài sản trước khi tài sản được giao cho bên mua, bên mua chịu rủi ro đối với tài sản kể từ thời điểm nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
2. Đối với hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu thì bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
Như vậy, mặc dù đã ký kết hợp đồng và A đã thanh toán cho B toàn bộ số tiền hàng nhưng B chưa giao hàng cho A nên B phải chịu rủi ro đối với tài sản cho đến khi đã giao hàng cho A. Do đó, việc A yêu cầu B đền bù cho mình một bộ giường tủ khác cùng giá trị là đúng quy định của pháp luật.
41. A là chủ cửa hàng điện thoại di động. Do có quen biết nên A đồng ý cho B dùng thử chiếc điện thoại Iphone 6 trong 5 ngày trước khi quyết định có mua hay không (có giấy biên nhận ghi rõ nội dung và chữ ký của 2 bên). Sau khi dùng thử 3 ngày, A làm rơi vỡ gây hư hỏng điện thoại nên đã đem trả lại cho B và nói sẽ bồi thường để B sửa lại điện thoại. B không đồng ý và yêu cầu A phải mua chiếc điện thoại đó. Hỏi yêu cầu của B có đúng không?
Trả lời:
A và B đã thỏa thuận về việc dùng thử chiếc điện thoại trước khi mua. Trong thời hạn dùng thử, B có quyền trả lời mua hoặc không mua chiếc điện thoại đó. Theo quy định tại khoản 3 Điều 452 Bộ luật dân sự năm 2015 thì trường hợp bên dùng thử trả lời không mua thì phải trả lại vật cho bên bán và phải bồi thường thiệt hại cho bên bán, nếu làm mất, hư hỏng vật dùng thử. Bên dùng thử không phải chịu trách nhiệm về những hao mòn thông thường do việc dùng thử gây ra và không phải hoàn trả hoa lợi do việc dùng thử mang lại.
Trong trường hợp này B trả lại cho A chiếc điện thoại dùng thử nhưng lại làm hỏng chiếc điện thoại đó thì B có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại cho A.
42. Vợ chồng ông L, bà C thỏa thuận với ông K về việc cho ông K thuê căn nhà hợp pháp của mình. Hai bên ký kết hợp đồng thuê nhà. Giá thuê là 20.000.000 đồng/1 tháng, trả tiền 6 tháng/1 lần, thời hạn thuê 5 năm kể từ thời điểm ông L, bà C giao nhà cho ông K. Trong năm đầu tiên thuê nhà, ông K thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng. Nhưng đã hơn 5 tháng nay, kể từ ngày đến hạn trả tiền kỳ thứ ba theo thỏa thuận, ông K không trả tiền nhà, ông L, bà C đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông K vẫn trây ì không trả.
Ông L, bà C yêu cầu ông K trả lại nhà cho thuê trước thời hạn. Ông L, bà C có quyền làm như vậy không?
Trả lời:
1. Tính pháp lý hợp đồng thuê nhà giữa ông L, bà C và ông K
Theo quy định tại Điều 472 Bộ luật dân sự năm 2015, hợp đồng thuê nhà ở được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Khoản 2 Điều 122 Luật nhà ở năm 2014 quy định:
Đối với trường hợp cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở thì không bắt buộc phải công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp các bên có nhu cầu.
Đối với các giao dịch quy định tại khoản này thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là do các bên thỏa thuận; trường hợp các bên không có thỏa thuận thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm ký kết hợp đồng.
Đối chiếu quy định của pháp luật, hợp đồng thuê nhà giữa vợ chồng ông L, bà C và ông K phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng; trường hợp các bên không thỏa thuận thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm ký kết hợp đồng.
2. Về việc ông L, bà C lấy lại nhà khi chưa hết thời hạn cho thuê theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 132 Luật nhà ở năm 2014, bên cho thuê nhà ở có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà và thu hồi nhà ở đang cho thuê khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Bên cho thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, nhà ở xã hội cho thuê không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, không đúng điều kiện theo quy định của Luật nhà ở
- Bên thuê không trả tiền thuê nhà ở theo thỏa thuận từ 03 tháng trở lên mà không có lý do chính đáng;
- Bên thuê sử dụng nhà ở không đúng mục đích như đã thỏa thuận trong hợp đồng;
- Bên thuê tự ý đục phá, cơi nới, cải tạo, phá dỡ nhà ở đang thuê;
- Bên thuê chuyển đổi, cho mượn, cho thuê lại nhà ở đang thuê mà không có sự đồng ý của bên cho thuê;
- Bên thuê làm mất trật tự, vệ sinh môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt của những người xung quanh đã được bên cho thuê nhà ở hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc lập biên bản đến lần thứ ba mà vẫn không khắc phục;
- Thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 129 của Luật nhà ở.
Theo tình huống đã cho ông K đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền thuê nhà là hơn 5 tháng.
Vì vậy, dù hợp đồng thuê nhà còn thời hạn nhưng ông K vi phạm nghĩa vụ trả tiền thuê nhà hơn 5 tháng nên ông L, bà C được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 132 Luật nhà ở năm 2014, ông L, bà C chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà ở phải thông báo cho ông K trước ít nhất 30 ngày, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; nếu vi phạm quy định này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
43. Là chỗ họ hàng, nên A đồng ý bán cho B chiếc máy tuốt lúa liên hoàn cơ khí năng lượng trị giá 19 triệu đồng, thời hạn thanh toán là 2 tháng kể từ ngày hai bên ký hợp đồng. A đã giao máy cho B sử dụng, nhưng đến hết thời hạn thanh toán, B mới chỉ trả được cho A 9 triệu đồng. 6 tháng sau B trả nốt số tiền còn lại là 10 triệu đồng cho A, A yêu cầu B phải trả thêm số tiền lãi do B thanh toán chậm nhưng B không đồng ý. Hỏi, yêu cầu của A có đúng không?
Trả lời:
A và B đã có thỏa thuận vềhợp đồng mua bán tài sản, đây là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán. Theo quy định tại Điều 440 Bộ luật dân sự 2015 thì:
“ 1. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn, địa điểm và mức tiền được quy định trong hợp đồng.
2. Trường hợp các bên chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao tài sản thì thời hạn thanh toán tiền cũng được xácđịnh tương ứng với thời hạn giao tài sản. Nếu các bên không có thỏa thuận về thời hạn giao tài sản và thời hạn thanh toán tiền thì bên mua phải thanh toán tiền tại thời điểm nhận tài sản.
3. Trường hợp bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật này”.
Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền như sau:
“1. Trường hợp bên có nghĩa vụchậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này”.
Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 về lãi suất vay như sau:
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”.
Theo các quy định trên, B có nghĩa vụ phải thanh toán toàn bộ số tiền mua máy cho A theo thời hạn hai bên đã thỏa thuận. Tuy nhiên hết thời hạn trên, B mới chỉ trả được 9 triệu. Như vậy, ngoài việc phải thanh toán tiền mua máy cho A thì B còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả là 10 triệu theo quy định về lãi suất nêu trên.
44. Chị H vay của chị N mười triệu đồng nhưng đã quá hạn trả mà chị H vẫn chưa trả. Sau nhiều lần yêu cầu chị H thanh toán không được, chị N đã đến nhà chị H định lấy đi chiếc xe máy của chị H để xiết nợ. Hai bên cãi vã, to tiếng với nhau, gây mất trật tự trong xóm.
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong trường hợp này được quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
Như vậy, chị H vay tiền của chị N thì phải có nghĩa vụ trả lại cho chị N đầy đủ và đúng hạn. Việc chị N định xiết nợ bằng chiếc xe máy của chị H là vi phạm pháp luật. Nếu chị cố tình lấy chiếc xe máy của chị H thì hành vi của chị có thể cấu thành tội "công nhiên chiếm đoạt tài sản" theo Điều 172 của Bộ luật hình sự năm 2015 và chị phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình.
Theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Để bảo vệ quyền lợi của mình, chị N cũng có quyền khởi kiện tại Toà án.
45. T có vay của chị M 25 triệu đồng để mở cửa hàng kinh doanh ăn uống với thời hạn mười hai tháng với lãi suất là 0,5%/tháng. Sau 10 tháng T đến trả nợ chị M cả số tiền gốc và tiền lãi của 10 tháng. Chị M yêu cầu T phải trả lãi đủ mười hai tháng. Yêu cầu của chị M có đúng không. Pháp luật quy định như thế nào về việc thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn?
Trả lời:
Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về vấn đề này như sau:
- Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý, còn bên cho vay chỉ được đòi lại tài sản trước kỳ hạn, nếu được bên vay đồng ý.
- Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Như vậy, theo quy định của pháp luật, yêu cầu của chị M là hoàn toàn hợp lý, T phải trả số tiền nợ gốc và toàn bộ lãi của 12 tháng.
46. Do có quen biết nên A cho B vay 200 triệu đồng, hai bên có thỏa thuận về việc trả lãi với mức lãi suất là từ 15 đến 20%/năm của khoản tiền vay và tới thời điểm trả lãi hàng năm sẽ thỏa thuận về mức lãi suất cụ thể. Thời hạn vay là 02 năm tính từ ngày hai bên ký giấy vay tiền. Trường hợp A và B có tranh chấp về lãi suất thì giải quyết như thế nào?
Trả lời:
Về lãi suất vay, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”.
Như vậy, việc A và B thỏa thuận mức lãi suất như trên là phù hợp với quy định của pháp luật. Khi có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn do Nhà nước quy định là 20%/năm của khoản tiền vay.
47. A ký hợp đồng thuê B để vận chuyển 01 đôi lọ lục bình to. Mặc dù A đã căn dặn kĩ lưỡng là hàng dễ vỡ nhưng trong quá trình vận chuyển, do B lái xe không cẩn thận nên một chiếc bị vỡ. Đề nghị cho biết nguyên tắc thực hiện bồi thường trong trường hợp này?
Trả lời:
Giữa A và B đã giao kết hợp đồng vận chuyển tài sản. Đó là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vận chuyển có nghĩa vụ chuyển tài sản đến địa điểm đã định theo thỏa thuận và giao tài sản đó cho người có quyền nhận, còn bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ trả cước phí vận chuyển.
Theo Điều 534 Bộ luật dân sự 2015, B có nghĩa vụ sau đây:
“1. Bảo đảm vận chuyển tài sản đầy đủ, an toàn đến địa điểm đã định, theo đúng thời hạn.
2. Giao tài sản cho người có quyền nhận.
3. Chịu chi phí liên quan đến việc chuyên chở tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
5. Bồi thường thiệt hại cho bên thuê vận chuyển trong trường hợp bên vận chuyển để mất, hư hỏng tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
Theo đó, mặc dù A đã cảnh báo về hàng dễ vỡ nhưng do bất cẩn nên trong quá trình vận chuyển, B đã làm hư hỏng hàng hóa, nên B có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại cho A theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 541 Bộ luật dân sự năm 2015, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được thực hiện như sau:
- Bên vận chuyển phải bồi thường thiệt hại cho bên thuê vận chuyển nếu để tài sản bị mất hoặc hư hỏng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 536 của Bộ luật này.
- Bên thuê vận chuyển phải bồi thường thiệt hại cho bên vận chuyển và người thứ ba về thiệt hại do tài sản vận chuyển có tính chất nguy hiểm, độc hại mà không có biện pháp đóng gói, bảo đảm an toàn trong quá trình vận chuyển.
- Trường hợp bất khả kháng dẫn đến tài sản vận chuyển bị mất, hư hỏng hoặc bị hủy hoại trong quá trình vận chuyển thì bên vận chuyển không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
48. A thuê B vận chuyển hàng từ tổng kho đến cơ sở kinh doanh của A. Tuy nhiên, khi A mở kho để chuyển số hàng B chở đến thì phát hiện đường điện có dấu hiệu bất thường dễ gây chập cháy. Chính vì vậy, A đề nghị B lui thời gian giao hàng để A cho người kiểm tra, sửa chữa. B không đồng ý và yêu cầu A nhận ngay số hàng nói trên vì ngay sau đó B có hợp đồng vận chuyển cho công ty khác. A và B xảy ra tranh chấp. Đề nghị cho biết hướng giải quyết trường hợp này?
Trả lời:
A và B đã có thỏa thuận vềhợp đồng vận chuyển tài sản, đây là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vận chuyển có nghĩa vụ chuyển tài sản đến địa điểm đã định theo thỏa thuận và giao tài sản đó cho người có quyền nhận, còn bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ trả cước phí vận chuyển.
Theo quy định tại Điều 539 Bộ luật dân sự năm 2015 về nghĩa vụ của bên nhận tài sản thì bên nhận tài sản có nghĩa vụ:
- Xuất trình cho bên vận chuyển vận đơn hoặc chứng từ vận chuyển tương đương khác và nhận tài sản đúng thời hạn, địa điểm đã thỏa thuận.
- Chịu chi phí xếp, dỡ tài sản vận chuyển, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
- Thanh toán chi phí hợp lý phát sinh do việc chậm tiếp nhận tài sản.
- Trường hợp bên nhận tài sản là người thứ ba được bên thuê vận chuyển chỉ định thì phải thông báo cho bên thuê vận chuyển về việc nhận tài sản và thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của bên thuê vận chuyển.
Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 538 Bộ luật dân sự năm 2015, trường hợp tài sản đã được chuyển đến địa điểm giao tài sản đúng thời hạn nhưng không có bên nhận tài sản thì bên vận chuyển có thể gửi số tài sản đó tại nơi nhận gửi giữ và phải báo ngay cho bên thuê vận chuyển hoặc người thứ ba được bên thuê vận chuyển chỉ định nhận tài sản. Bên thuê vận chuyển hoặc người thứ ba được bên thuê vận chuyển chỉ định nhận tài sản phải chịu chi phí hợp lý phát sinh từ việc gửi giữ tài sản.
Nghĩa vụ giao tài sản hoàn thành khi tài sản đã được gửi giữ và bên thuê vận chuyển hoặc người thứ ba được bên thuê vận chuyển chỉ định nhận tài sản đã được thông báo về việc gửi giữ.
Như vậy, nếu B không đồng ý và đề nghị A nhận ngay số hàng đã vận chuyển đến thì A phải nhận số hàng đó; hoặc thỏa thuận gửi số hàng đó tại nơi nhận gửi giữ và A phải chịu chi phí hợp lý phát sinh từ việc gửi giữ tài sản.
49. Vợ chồng ông T có 5 người con, trong đó anh L là người con trai duy nhất. Khi tuổi già sức yếu, vợ chồng ông T quyết định định đoạt tài sản của mình bằng việc trao toàn bộ diện tích nhà, đất cho vợ chồng anh L. Ông T và vợ là bà V đã đến phòng công chứng làm hợp đồng tặng cho nhà đất của mình cho vợ chồng anh L (mảnh đất này đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); với điều kiện vợ chồng anh L phải có nghĩa vụ phụng dưỡng bố mẹ già và sau này chăm lo mồ mả, hương khói tổ tiên.
Sau khi được tặng cho nhà, anh L phá ngôi nhà cũ của cha mẹ và xây dựng một ngôi nhà mới. Thời gian đầu, tình hình sống chung của vợ chồng anh L với ông bà T rất tốt. Nhưng càng về sau do phát sinh mâu thuẫn, mối quan hệ giữa vợ chồng anh L với ông bà T diễn ra rất căng thẳng dẫn đến không thể sống chung trong cùng một ngôi nhà nữa. Tuy nhiên, do không còn chỗ ở khác nên ông bà T làm đơn khởi kiện đòi lại nhà đất của mình hiện do vợ chồng anh L sử dụng.
Hỏi ông bà T có quyền đòi lại tài sản trên không?
Trả lời:
Vợ chồng ông bà T có quyền kiện đòi lại nhà đất trong 2 trường hợp:
- Hợp đồng tặng cho vô hiệu;
- Vợ chồng anh L vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng tặng cho.
Hợp đồng giữa ông T và vợ chồng anh L là hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện, cụ thể là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, nhà ở gắn liền với đất.
Điều 459 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về tặng cho bất động sản như sau:
“1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật.
2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản”.
Đối với tặng cho tài sản có điều kiện, Điều 462 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“1. Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.
3. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.
Điều kiện mà vợ chồng ông T yêu cầu vợ chồng anh L thực hiện là “phải có nghĩa vụ phụng dưỡng bố mẹ già và sau này chăm lo mồ mả, hương khói tổ tiên”. Điều kiện này không trái pháp luật, đạo đức xã hội và đây là trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho. Theo khoản 3 Điều 462 Bộ luật dân sự năm 2015 thì trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Tuy nhiên, để xác định vợ chồng ông T có quyền đòi lại tài sản từ vợ chồng anh L hay không, phải xem xét 2 vấn đề sau đây: (i) Hợp đồng tặng cho có hiệu lực hay không, chỉ khi hợp đồng tặng cho bất động sản được đăng ký thì mới phát sinh hiệu lực; (ii) Vợ chồng anh L có vi phạm việc không thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho hay không. Vợ chồng ông T chỉ có quyền đòi lại tài sản nếu có căn cứ cho rằng vợ chồng anh L không thực hiện đúng nghĩa vụ phụng dưỡng cha mẹ già và chăm lo mồ mả, hương khói tổ tiên.
50. A và B là anh em họ. B đi học xa nhà, không có phương tiện đi lại nên đã mượn A chiếc xe máy Ware RS để tiện cho việc đi học trong thời hạn 1 năm. Sau khi cho mượn xe được 5 tháng, A phát hiện ra B không dùng chiếc xe của mình để đi học mà đem cho bạn gái mượn để đi làm. Vậy trường hợp này A có quyền đòi lại chiếc xe khi chưa hết thời hạn 01 năm không?
Trả lời:
Giữa A và B đã giao kết hợp đồng mượn tài sản, theo đó A cho B mượn chiếc xe máy của mình trong 01 năm để làm phương tiện đi học. Theo quy định tại Điều 496 Bộ luật dân sự 2015, thì B có các nghĩa vụ sau đây:
- Giữ gìn, bảo quản tài sản mượn, không được tự ý thay đổi tình trạng của tài sản; nếu tài sản bị hư hỏng thông thường thì phải sửa chữa.
- Không được cho người khác mượn lại, nếu không có sự đồng ý của bên cho mượn.
- Trả lại tài sản mượn đúng thời hạn; nếu không có thỏa thuận về thời hạn trả lại tài sản thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay sau khi mục đích mượn đã đạt được.
- Bồi thường thiệt hại, nếu làm mất, hư hỏng tài sản mượn.
- Bên mượn tài sản phải chịu rủi ro đối với tài sản mượn trong thời gian chậm trả.
Như vậy, có thể thấy việc B không dùng chiếc xe để đi học mà đem cho bạn gái mượn đi làm khi chưa có sự đồng ý của A đã vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 496 Bộ luật dân sự 2015.
Theo quy định tại Điều 499 Bộ luật dân sự 2015, A có quyền đòi lại tài sản khi bên mượn sử dụng không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thỏa thuận hoặc cho người khác mượn lại mà không có sự đồng ý của bên cho mượn. Theo đó, mặc dù chưa đến hạn trả xe nhưng A có quyền đòi lại xe và B có nghĩa vụ phải trả lại xe cho A.
51. A ký hợp đồng gửi xe ô tô tại bãi xe của B trong thời hạn 01 năm, tiền trông xe được trả theo tháng là 1 triệu đồng/tháng. Do có bão gây mưa và gió lớn khiến cây đổ làm mái che bị sập, gây vỡ kính và hư hỏng xe của A. Hỏi, trong trường hợp này B có phải bồi thường thiệt hại cho A không?
Trả lời:
A và B đã thỏa thuận về hợp đồng gửi giữ tài sản, theo đó B sẽ nhận giữ chiếc xe ô tô của A trong thời hạn 1 năm và A phải trả tiền công cho B.
Theo quy định tại Điều 556 Bộ luật dân sự 2015, bên gửi tài sản có các quyền sau đây:
“ 1. Yêu cầu lấy lại tài sản bất cứ lúc nào, nếu hợp đồng gửi giữ không xác định thời hạn, nhưng phải báo trước cho bên giữ một thời gian hợp lý.
2. Yêu cầu bồi thường thiệt hại, nếu bên giữ làm mất, hư hỏng tài sản gửi giữ, trừ trường hợp bất khả kháng”.
Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
Như vậy, việc xe của A bị hỏng là do bão gây mưa và gió lớn khiến cây đổ làm mái che bị sập, đây được coi là trường hợp bất khả kháng nên B không phải bồi thường thiệt hại cho A.
52. A ký hợp đồng thuê xe ô tô 16 chỗ ngồi của B để đi du lịch Đà Nẵng trong 5 ngày. Tuy nhiên khi chưa hết thời hạn 5 ngày, B phát hiện ra A không đi du lịch mà dùng xe của mình để buôn hàng quần áo từ cửa khẩu Lào Cai về Hà Nội. B yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê xe, đề nghị A trả xe và tiền thuê cho B nhưng A không đồng ý vì chưa hết hạn thuê, hai bên xảy ra tranh chấp.
Trường hợp này nên giải quyết thế nào?
Trả lời:
A và B đã giao kết hợp đồng thuê tài sản là chiếc xe ô tô 16 chỗ ngồi với mục đích để B đi du lịch. Theo quy định tại Điều 480 Bộ luật dân sự năm 2015 thì:
“1. Bên thuê phải sử dụng tài sản thuê theo đúng công dụng của tài sản và đúng mục đích đã thỏa thuận.
2. Trường hợp bên thuê sử dụng tài sản không đúng mục đích, không đúng công dụng thì bên cho thuê có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.
Như vậy, vì đã thỏa thuận thuê xe để đi du lịch nên A phải thực hiện đúng, việc A dùng xe để buôn hàng quần áo từ cửa khẩu Lào Cai về Hà Nội là đã vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng. Do đó, B có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê xe. “Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện” (Khoản 3 Điều 428 Bộ luật dân sự năm 2015), theo đó, A có nghĩa vụ trả lại xe và tiền thuê xe tương ứng với số ngày thuê cho B.
53. Cả nhà ông A đi vắng mà thóc thì phơi ở đầy sân. Khi thấy trời sắp mưa, anh B là hàng xóm của ông A chạy sang cất thóc vào bếp cho ông A, nhưng vì số thóc quá nhiều nên anh B đã thuê thêm anh M để cùng làm. Nhờ có sự giúp đỡ của anh B mà số thóc nhà ông A không bị ướt. Sau đó, anh B có yêu cầu ông A thanh toán số tiền mà anh B đã bỏ ra để thuê anh M. Ông A chỉ đồng ý trả ½ số tiền đó vì cho rằng đấy là do anh B tự ý thuê chưa có sự đồng ý của ông A. Pháp luật quy định như thế nào về nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện?
Trả lời:
Điều 576 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện như sau:
- Người có công việc được thực hiện phải tiếp nhận công việc khi người thực hiện công việc không có ủy quyền bàn giao công việc và thanh toán các chi phí hợp lý mà người thực hiện công việc không có ủy quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc, kể cả trường hợp công việc không đạt được kết quả theo ý muốn của mình.
- Người có công việc được thực hiện phải trả cho người thực hiện công việc không có ủy quyền một khoản thù lao khi người này thực hiện công việc chu đáo, có lợi cho mình, trừ trường hợp người thực hiện công việc không có ủy quyền từ chối.
Như vậy, yêu cầu của anh B là phù hợp với quy định của pháp luật. Ông A có nghĩa vụ thanh toán số tiền mà anh B bỏ ra để thuê anh M cất thóc cho nhà ông A. Đồng thời, ông A còn phải trả cho anh B một khoản thù lao nhất định cho việc thực hiện công việc đó, trừ trường hợp anh B từ chối.
54. Do say rượu anh T đã lái xe loạng choạng và tông vào xe máy của anh Đ đang đi cùng chiều. Anh T chỉ bị xây xước nhẹ nhưng xe máy của anh thì bị vỡ yếm, vỡ đèn. Anh Đ bị ngã nhưng rất may, cả người và xe đều an toàn.
Anh T yêu cầu anh Đ phải chịu một nửa tiền chi phí sửa xe cho anh T. Anh Đ không chịu vì anh không có lỗi gì. Trong trường hợp này anh T đúng hay anh Đ đúng ?
Trả lời:
Khoản 3 Điều 585 Bộ Luật dân sự năm 2015 quy định: “Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra”.
Trong trường hợp nói trên, anh Đ đúng. Thiệt hại của anh T hoàn toàn do lỗi của anh T gây ra nên anh T phải tự chịu trách nhiệm đối với thiệt hại đó. Anh Đ hoàn toàn không có lỗi gì và anh cũng không gây ra thiệt hại đó. Do vậy, anh Đ không phải bồi thường.
55. Nguyễn Văn T 18 tuổi là sinh viên đại học Xây dựng Hà Nội cùng với Nguyễn Hữu C 17 tuổi, Trần Cát L 16 tuổi, Lê Hữu N 14 tuổi đá bóng tại sân chơi của khu tập thể. Trong khi đá bóng, không may các em đá quả bóng vào sân nhà ông H làm vỡ chậu cây cảnh đắt tiền. Trong trường hợp này, ai là người phải bồi thường thiệt hại cho ông H?
Trả lời:
Pháp luật dân sự quy định nguyên tắc người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ và kịp thời. Trong trường hợp này T, C, L và N đá bóng làm vỡ chậu cảnh nhà ông Hùng nên họ có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại.
Tuy nhiên, Bộ luật dân sự quy định mức độ năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân. Căn cứ vào quy định của Điều 611 Bộ luật dân sự 2015 về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại của từng người trong trường hợp này được xác định như sau:
- T đủ 18 tuổi gây thiệt hại phải tự bồi thường.
- C 17 tuổi, L 16 tuổi mà có tài sản thì phải bồi thường bằng tài sản của mình, nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ C phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
- N14 tuổi, gây thiệt hại thì cha, mẹ của N phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do N gây ra; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà N có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu.
Trách nhiệm bồi thường của T, C, L và N là trách nhiệm liên đới. Điều 587 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định, Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.
Theo quy định tại Điều 288 Bộ luật dân sự năm 2015, ông H có quyền yêu cầu bất kỳ ai trong số họ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Trong trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ bồi thường cho ông H thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình..
56. Anh M đi xe máy trái đường, đâm vào bà A làm bà A bị gãy tay, phải nghỉ làm mất hai tháng. Anh M đã bồi thường cho bà A số tiền thuốc, tiền viện phí nhưng bà A còn yêu cầu anh M phải bồi thường cả số tiền lương của bà hai tháng bà không đi làm được. Yêu cầu của bà A có hợp lý không?
Trả lời:
Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bịthiệt hại;
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
- Thiệt hại khác do luật quy định.
Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quyđịnh.
Như vậy, yêu cầu của bà A là hoàn toàn hợp lý, ngoài số tiền thuốc, tiền viện phí, anh M còn phải bồi thường cho bà A thu nhập thực tế bà A bị mất (tức là số tiền tương ứng với tiền lương của hai tháng bà A không đi làm được do bị gãy tay), chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc bà A trong thời gian điều trị (nếu có).
57. Anh B đâm xe máy vào ông M làm ông M bị thương nặng, sau hai ngày thì chết. Anh B đã trả toàn bộ số tiền chi phí cho việc cứu chữa cho ông M trước khi chết, chi phí cho việc mai táng theo thực tế. Gia đình ông M còn yêu cầu anh B phải bồi thường thêm một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho họ. Yêu cầu này có hợp lý không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015 thì thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
- Thiệt hại do sức khỏe bịxâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật dân sự;
- Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
- Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Thiệt hại khác do luật quy định.
Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hạiđã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
Như vậy, yêu cầu của gia đình ông M là hợp lý, anh B phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích của ông M. Theo quy định của pháp luật thì mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
58. A và B là hàng xóm trong cùng một khu tập thể. Do xích xích mích, A đã thuê côn đồ đến đập phá đồ đạc trong nhà A và hành hung vợ con A. Để bảo vệ tính mạng cũng như tài sản của mình, B đã chống trả quyết liệt nên đã làm bị thương một số người (E, K) kéo đến đập phá nhà của B. Người nhà của E, K kéo đến đòi B phải bồi thường cho E, K.
B có phải bồi thường thiệt hại xảy ra cho E, K hay không?
Trả lời
Do tình huống trong phần câu hỏi không nói rõ khi xảy ra vụ việc, những thiệt hại thực tế xảy ra cho B và gia đình B về sức khỏe và tài sản là bao nhiêu cũng như mức độ thương tích của E, K… do đó, giả thiết rằng vụ việc chưa mang tính chất của vi phạm pháp luật hình sự.
Theo tình tiết đã nêu thì E, K (người bị thiệt hại) lại là người có lỗi đối với thiệt hại xảy ra (E, K chủ động đến đập phá nhà của B và đánh vợ con B). Theo Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015, khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra..
Theo quy định tại Điều 594 Bộ luật dân sự năm 2015, tình huống nêu trên thì B là người thực hiện hành vi mang tính chất tự vệ để chống lại E, K, nên nếu B nằm trong trường hợp gây thiệt hại cho E, K do phòng vệ chính đáng (tuỳ thuộc vào mức độ chống trả có tương xứng hay không) thì B sẽ không phải bồi thường thiệt hại cho E, K. Nhưng nếu hành vi chống trả của B vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng thì B sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường tương ứng với phần vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng.
59. Ông T thả chó ra ngoài đường, con chó vừa được thả ra liền lao thẳng về phía cháu C đang chơi gần đó. Ông A đi ngang qua đó liền cầm chiếc bàn nhựa trong quán nước nhà bà N để đánh đuổi con chó. Chiếc bàn và một số cốc chén của bà N bị hỏng. Bà N đòi ông A phải đền bù thiệt hại cho bà.
Hỏi ông A có phải bồi thường cho bà N không ?
Trả lời:
Trong trường hợp này, ông A không phải bồi thường thiệt hại cho bà N. Việc ông A dùng đồ vật của bà N để đánh đuổi con chó là việc làm trong tình thế cấp thiết. Điều 595 Bộ luật dân sự năm 2015 qui định:
“1. Trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại.
2. Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại”.
Trường hợp này, ông T là người gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra cho bà N. Nếu không vì tình cảm láng giềng mà theo luật thì ông T có trách nhiệm bồi thường cho bà N.
60. Anh T uống rượu say đã đâm xe máy vào cửa hàng của anh H làm vỡ tủ kính. Khi T tỉnh rượu, anh H yêu cầu T bồi thường. T không chịu vì cho rằng do say chứ T không cố ý phá phách, gây thiệt hại cho anh H. Hỏi T có phải bồi thường cho anh H không ?
Trả lời:
Điều 596 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:
“1. Người do uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường.
2. Khi một người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khảnăng nhận thức và làm chủ hành vi mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại”.
Do vậy, T phải bồi thường thiệt hại cho anh H mặc dù T không cố ý.
61. Anh M là người làm công cho siêu thị điện máy H. Trong một lần lắp máy điều hoà nhiệt độ cho nhà ông C, do sơ suất M làm chập điện làm cháy tivi và toàn bộ hệ thống đèn của ông C. Ông C bắt cửa hàng H phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Như vậy có đúng không?
Trả lời:
Điều 597 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra như sau:
“Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật”.
Trong trường hợp trên, ông C yêu cầu siêu thị H phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho ông là đúng pháp luật. Siêu thị H phải chịu trách nhiệm bồi thường cho ông C và cũng có quyền yêu cầu anh M phải hoàn trả một khoản tiền (theo quy định của pháp luật). Bởi vì anh M có lỗi trong việc gây thiệt hạị cho ông C (sơ suất để chập điện, gây cháy tivi, đèn).
62. C (14 tuổi) lén lấy xe máy của bố đi chơi. Khi đi trên đường QL38 tại xã MQ, huyện ĐH, tỉnh LA, do phóng nhanh, vượt ẩu, xe máy do C điều khiển đâm vào xe đạp của chị Nguyễn H, đang đi cùng chiều gây tai nạn. Hậu quả chị H chết do đập đầu xuống đường. Xe đạp của chị H bị hư hỏng nặng. Khi bị tai nạn, chị H đi đúng phần đường của mình và đúng tốc độ. Người thân chị H yêu cầu C phải bồi thường cho gia đình chị H những khoản tiền bồi thường theo quy định pháp luật.
Xác định trách nhiệm bồi thường của C và gia đình anh C đối với thiệt hại về tính mạng của chị H; các khoản tiền gia đình chị H được yêu cầu bồi thường?
Trả lời:
1. Về trách nhiệm bồi thường
Khoản 2 Điều 586 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này”.
Trong trường hợp này, khi gây ra thiệt hại, C mới 14 tuổi nên trách nhiệm bồi thường cho gia đình chị H thuộc về bố mẹ của C. Trường hợp tài sản của bố mẹ C không đủ để bồi thường cho gia đình chị H thì mà C có tài sản riêng thì lấy tài sản đó của C để bồi thường phần còn thiếu.
2. Xác định các khoản tiền gia đình chị H có thể được bồi thường
Tai nạn dẫn đến chị H bị chết, xe đạp của chị H bị hư hỏng nặng. Vì thế, gia đình C phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm theo quy định tại Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015 và thiệt hại tính mạng bị xâm phạm cho gia đình chị H theo quy định tại Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015.
63. Trên đường về nhà, ông Qu ghé vào chơi nhà bạn. Mải vui chén rượu, ông quên buộc trâu, để trâu vào phá nát một phần ruộng ngô đang kỳ thu hoạch của nhà bà Th. Bà Th yêu cầu ông Qu phải đền toàn bộ thiệt hại nhưng ông Qu chỉ chấp nhận đền cho bà một nửa vì cho rằng ông không cố ý thả trâu vào phá ruộng. Mỗi người một ý, chẳng ai chịu ai.Xin hỏi pháp luật quy định về vấn đề này như thế nào?
Trả lời:
Điều 603 Bộ luật dân sự 2015 về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra quy định:
“1. Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.
3. Trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường; khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.
4. Trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội”.
Khoản 1, khoản 2 Điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“ 1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quyđịnh khác.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình”.
Căn cứ các quy định trên, ông Qu phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do trâu của ông gây ra cho nhà bà Th. Về nguyên tắc, thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Tuy nhiên, hai bên có thể thoả thuận mức bồi thường và phương thức bồi thường. Trong trường hợp thiệt hại lớn, điều kiện kinh tế của ông Qu có khó khăn thì bà Th có thể thông cảm, vì tình cảm xóm giềng mà giảm bớt cho ông Qu một phần hoặc toàn bộ mức bồi thường.
64. Do mưa bão nên cây sấu nhà bà C bị gẫy nhiều cành. Không may khi đi qua đó, anh D bị một cành sấu to gẫy, rơi xuống làm bị thương ở đầu. Anh D yêu cầu bà C bồi thường thiệt hại nhưng bà C không đồng ý? Hỏi pháp luật quy định về vấn đề này như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2015 thì chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra.
Tuy nhiên, khoản 2 Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Như vậy, đối chiếu với quy định trên, cành cây nhà bà C gẫy, rơi xuống gây thiệt hại cho anh D là do sự kiện bất khả kháng (do mưa bão) nên bà C không phải bồi thường.
65. Tường bao nhà ông A bỗng nhiên bị đổ đã làm bị thương hai cháu học sinh đang chơi gần đó. Ông A có phải bồi thường thiệt hại cho hai cháu học sinh đó không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2015, chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác (Khoản 2 Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015). Như vậy, trong trường hợp này, ông A phải bồi thường thiệt hại do tường bao nhà mình bị đổ gây thiệt hại cho hai cháu học sinh.
4. THỪA KẾ
66. Anh S và chị T lấy nhau được 13 năm, do không có con cái, nên anh chị thoả thuận nộp đơn lên Toà án huyện xin ly hôn. Trong thời gian chờ đợi quyết định của Toà án, không may anh S bị tai nạn giao thông chết. Gia đình anh S buộc chị T phải trả lại một nửa số tài sản của hai anh chị với lý do anh chị đã có đơn ly hôn gửi Toà án.
Chị T có được hưởng thừa kế của anh S không?
Trả lời:
Điều 655 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về việc thừa kế trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung; vợ chồng đang xin ly hôn hoặc đã kết hôn với người khác như sau:
“1. Trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
2. Trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
3. Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản.”
Như vậy, theo Điều 655 Bộ luật dân sự năm 2015 và căn cứ vào các tình tiết nêu trên cho thấy mặc dù đã có đơn xin ly hôn, nhưng anh S và chị T chưa được Toà án cho ly hôn bằng một bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nên chị T vẫn có quyền hưởng di sản thừa kế của anh S.
Ngoài ra, theo khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015, cha mẹ anh S cũng là người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất như chị T, do đó cha mẹ anh S cũng có quyền hưởng thừa kế của anh S nhưng không phải là một nửa giá trị tài sản mà chỉ được hưởng 1/3 một nửa tài sản chung của anh S và chị T do:
- Tài sản của vợ chồng chị T và anh S là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia nên khi có sự kiện để phân chia khối tài sản thì mỗi người chỉ có 1/2 khối tài sản đó.
- Do theo tình huống nêu rõ là anh S và chị T không có con nên người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của anh S chỉ có 3 người (cha, mẹ và vợ của anh S - chị T).
67. Ông M kết hôn với bà C và có 3 người con là D, Đ, G đều đã trưởng thành, Đ và G đã lập gia đình. Sau 28 năm chung sống, ông M qua đời. D là con cả nhưng hay rượu chè, cờ bạc, nên trong di chúc, ông M chỉ để lại số tiền riêng của ông gửi tại ngân hàng là 400.000.000 đồng Việt Nam cho bà C và hai người con là Đ, G. D không chịu và đòi mình cũng phải được thừa kế một phần bằng mẹ và các em.
D có quyền thừa kế đối với số tiền 400.000.000 đồng Việt Nam của ông M để lại hay không?
Trả lời:
Điều 644 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.”
Như vậy, theo Điều 644 Bộ luật dân sự năm 2015 và những tình tiết được nêu trong phần tình huống trên ta nhận thấy D không thuộc trường hợp những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Do đó, D không được hưởng phần di sản của ông M để lại.
68. Cha mẹ ông S sinh ra hai người con: ông S và người anh trai (P). Năm 1977, anh trai ông S vào Nam lập nghiệp. Đến năm 1986, cả cha và mẹ ông S qua đời do mắc trọng bệnh (không để lại di chúc). Ông S tiếp tục sống trong ngôi nhà diện tích 200 m2 do bố mẹ để lại. Nay, ông P từ miền Nam ra đòi chia thừa kế căn nhà nói trên nhưng ông S không chịu do cho rằng ông đã phải bỏ ra nhiều công sức để tôn tạo và làm tăng giá trị của ngôi nhà.
Ông S có phải trả lại một phần di sản mà cha mẹ ông để lại cho ông P hay không?
Trả lời:
Theo tình huống nêu trên di sản thừa kế của cha mẹ ông S gồm có: một ngôi nhà có diện tích 200m2. Cha mẹ ông S không để lại di chúc khi qua đời. Do vậy, di sản của cha mẹ S sẽ được chia theo pháp luật.
Vào thời điểm cha mẹ của S chết, những người ở hàng thừa kế thứ nhất của cha mẹ ông S gồm có: ông S và người anh trai của ông (P). Do vậy, S và P là những người được hưởng di sản của cha mẹ S là S và P. Về nguyên tắc, khối di sản này (căn nhà) sẽ được chia làm hai phần bằng nhau cho S và P. Tuy nhiên, theo tình huống đã nêu thì thời điểm mở thừa kế (thời điểm mà cha mẹ của S chết) là năm 1986 và nay (năm 2017) ông P mới yêu cầu chia thừa kế, cho thấy từ thời điểm mở thừa kế cho đến thời điểm ông P yêu cầu chia thừa kế là hơn30 năm.
Tại Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 về thời hiệu thừa kế quy định:
“1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;
b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.
2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế” .
Trên cơ sở tình tiết đã nêu trên và Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 cho thấy yêu cầu của ông P do đã quá thời hiệu về thừa kế nên yêu cầu đó của ông P không được Toà án chấp thuận và ông S cũng không phải trả lại một phần di sản mà cha mẹ ông để lại.
69. Vợ chồng ông H và bà X có 3 người con: anh K, chị L và chị Q. Hai ông bà có ngôi nhà ngói 5 gian. Ông H tuổi cao nên qua đời không để lại di chúc. Anh K được sự đồng tình của mẹ là bà X đã không cho chị L và chị Q thừa kế nên đã chiếm luôn căn nhà nói trên.
Hỏi: - Việc làm của K đúng hay sai?
- Chị L và chị Q có quyền thừa kế tài sản do bố mình để lại không?
Trả lời:
Trong trường hợp này, ngôi nhà 5 gian và quyền sử dụng diện tích đất ở là tài sản của vợ chồng ông H, bà X. Khi ông H mất, một nửa ngôi nhà và quyền sử dụng một nửa diện tích đất là di sản thừa kế của ông H. Do khi mất, ông H không để lại di chúc, nên đây là trường hợp thừa kế theo pháp luật. Bà X, anh K, chị L, chị Q là người thừa kế hàng thứ nhất, vì điểm a khoản 1 Điều 650 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.”.
Việc anh K chiếm toàn bộ ngôi nhà, không cho các chị em gái cùng thừa kế một nửa ngôi nhà là vi phạm pháp luật, cụ thể là Điều 610 Bộ luật dân sự 2015 về quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân: “Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.”.
70. Ông P và bà K kết hôn với nhau và sinh được người con trai duy nhất là anh Đ. Năm 1997, anh Đ lập gia đình với chị G và sinh được hai người con là H và L. Vừa qua, trên đường về quê ăn giỗ, ông P và anh Đ không may bị tai nạn giao thông chết ngay tại chỗ.
Sau khi ông P và anh Đ chết, bà K, chị G tranh chấp với nhau di sản do ông P và anh Đ để lại.
Hỏi: Việc thừa kế trong trường hợp này được giải quyết như thế nào?
Trả lời:
Do ông P và anh Đ là những người được thừa kế của nhau (vì họ đều là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của nhau), họ lại chết cùng thời điểm (không xác định được ai chết trước ai chết sau), nên theo Điều 619 Bộ luật dân sự năm 2015, ông P và anh Đ sẽ không được hưởng thừa kế của nhau mà di sản của ông P và anh Đ sẽ do những người thừa kế của ông P và anh Đ được hưởng (trừ ông P và anh Đ).
Theo khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015, thì người thừa kế của anh Đ bao gồm: ông P, bà K (mẹ anh Đ), G (vợ anh Đ), hai người con của anh Đ là H và L, nhưng do ông P đã chết cùng anh Đ nên ông P không được thừa kế của anh D. Do vậy, bà K, chị G, cháu H và cháu L là những người được thừa kế theo pháp luật khối di sản của anh Đ. Mỗi người sẽ được 1/4 số di sản mà anh Đ có được.
Đối với phần tài sản do ông P để lại, thì về nguyên tắc bố mẹ của ông P (nếu còn sống), bà K và anh Đ sẽ được quyền thừa kế theo pháp luật (thuộc hàng thừa kế thứ nhất), nhưng anh Đ đã chết tại thời điểm mở thừa kế tài sản của ông P nên anh Đ không được thừa kế di sản mà ông P để lại. Tuy anh Đ không được hưởng thừa của ông P nhưng các con của anh Đ sẽ được hưởng phần di sản của ông P mà anh Đ được hưởng nếu còn sống.
Tại Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống..”
Căn cứ vào quy định của Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2015 nêu trên và các tình tiết của vụ việc, hai người con của anh Đ là cháu H và cháu L, mỗi cháu sẽ được hưởng một nửa phần di sản mà anh Đ được hưởng nếu như anh Đ còn sống.
71. Bà V và bà H là bạn hàng cùng buôn bán. Do có nhu cầu cần vốn kinh doanh, đầu năm 2013 bà V cho bà H vay nợ nhưng không tính lãi. Bà V và bà H ký Giấy vay nợ và thoả thuận với nhau khi nào bà V cần lấy lại tiền, thì bà H sẽ trả lại.
Không may, vừa qua bà H bị ốm và chết đột ngột. Sau khi việc tang ma đã hoàn tất. Bà V đến gặp ông N (chồng bà H) và yêu cầu ông N trả lại bà số tiền mà bà H đã vay nhưng ông N không trả với lý do khi bà H vay tiền ông không được biết và khi mất bà H cũng không nói cần phải trả nợ cho ai.
Hỏi: Việc đòi nợ của bà V trong trường hợp này có thể thực hiện được hay không?
Trả lời:
Nhận thấy, việc bà H vay tiền của bà V là một hợp đồng vay tài sản không có lãi. Do đó, theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015, thì khi đến hạn trả, bà H (bên vay) phải hoàn trả số tiền theo đúng số lượng mà bà V đã cho vay.
Việc vay tiền giữa bà V và bà H được thực hiện dưới hình thức Giấy vay nợ là phù hợp với quy định của pháp luật dân sự là hợp đồng vay tài sản có thể được giao kết bằng lời nói hoặc bằng văn bản.
Mặt khác, hợp đồng cho vay giữa bà V và bà H là hợp đồng vay không kỳ hạn, vì trong nội dung giấy vay nợ hai bà không xác định cụ thể thời hạn trả nợ. Do vậy, theo khoản 1 Điều 469 Bộ luật dân sự năm 2015, bà V (bên cho vay) có quyền đòi lại tài sản và bà H (bên vay) cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, nếu không có thoả thuận khác.
Vì bà H chết không để lại di chúc, nên theo quy định của pháp luật, khối tài sản của bà được thừa kế theo pháp luật. Theo đó, bố mẹ bà H (nếu còn sống), chồng và các con bà H là người hưởng thừa kế theo pháp luật, đang quản lý khối tài sản của bà H phải thực hiện nghĩa vụ tài sản mà bà H để lại theo quy định tại Điều 615 Bộ luật dân sự năm 2015. Đó là:
- Thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
- Người quản lý di sản thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo thoả thuận của những người thừa kế nếu di sản chưa được chia.
- Mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác nếu di sản đã được chia.
- Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân nếu người thừa kế là Nhà nước, cơ quan, tổ chức.
Do vậy, việc chồng bà H viện ra những lý do như không biết việc vay mượn và bà H chết không di chúc lại cho ai thực hiện nghĩa vụ trả nợ là không có cơ sở pháp lý.
72. Vợ ông S mất sớm, nay ông S bị bệnh nặng. Trước khi qua đời, ông S di chúc miệng phân chia di sản cho 4 người con của mình. Trong đó, người con thứ ba đã 28 tuổi nhưng vì chưa lập gia đình nên được phân chia phần ít hơn. Người này phản đối cho rằng di chúc phải được lập thành văn bản, di chúc miệng là không hợp pháp nên cần phải phân chia di sản của ông S theo pháp luật. Hỏi: Người lập di chúc có thể lập di chúc miệng không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 627 Bộ luật dân sự năm 2015 thì di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.
Điều 629 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.
Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.
Khoản 1, khoản 5 Điều 630 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Như vậy, trong trường hợp này ông S có thể lập di chúc miệng. Tuy nhiên, bản di chúc miệng này chỉ được coi là hợp pháp khi thỏa mãn các điều kiện theo quy định trên. Và nếu bản di chúc của ông S là hợp pháp thì việc phân chia di sản cho các con của ông S sẽ thực hiện theo di chúc của ông.
73. Ông X và bà H có hai người con là C và V. Do C có điều kiện kinh tế tốt hơn, nên ông X, bà H lập di chúc chia cho C phần di sản ít hơn V. Sau khi bố mẹ qua đời, C không đồng ý chia theo di chúc của bố mẹ vì cho rằng đây là bản di chúc không hợp pháp, không có công chứng, chứng thực cũng không có người làm chứng.
Hỏi: Bản di chúc không có người làm chứng, không có công chứng, chứng thực có được pháp luật công nhận không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 628 Bộ luật dân sự năm 2015 thì di chúc bằng văn bản bao gồm:
- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng.
- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng.
- Di chúc bằng văn bản có công chứng.
- Di chúc bằng văn bản có chứng thực.
Như vậy, pháp luật cũng công nhận di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, không có công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, không có công chứng, chứng thực phải tuân theo các quy định sau:
- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
- Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc.
Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 của Bộ luật dân sự năm 2015. Cụ thể Điều 631 quy định về nội dung của di chúc như sau:
“1. Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:
a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;
b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
d) Di sản để lại và nơi có di sản.
2. Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác.
3. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.
Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.”
Nếu bản di chúc của vợ chồng ông X và bà H tuân theo các quy định nêu trên thì bản di chúc được coi là hợp pháp và việc phân chia di sản của vợ chồng ông X và bà H thực hiện theo di nguyện của ông bà đã nêu tại di chúc.
74. Trước đây, ông M đã lập một bản di chúc phân chia tài sản của mình cho các con có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã. Nhưng gần đây trước khi mất ông M lại viết một bản di chúc khác phân chia lại tài sản của mình cho các con đồng thời có di tặng cho bà Ph là em gái của mình một khoản tiền trong khối tài sản đó. Các con của ông M cho rằng bản di chúc có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã mới là bản di chúc hợp pháp và mới có hiệu lực pháp luật. Vì thế đã xảy ra mâu thuẫn giữa bà Ph và các con của ông M.
Hỏi: Bản di chúc nào có hiệu lực pháp luật?
Trả lời:
Nếu bản di chúc viết tay của ông A có đầy đủ điều kiện của một bản di chúc hợp pháp, cụ thể là ông A tự tay viết và ký vào bản di chúc, ông A minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép; nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật thì đây sẽ là bản di chúc có hiệu lực pháp luật vì nó được lập sau cùng (khoản 5 Điều 643 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực).
75. Bà C sinh sống không có hôn thú với ông M và có hai người con chung (đều dưới 18 tuổi). Ông M mất, bà C yêu cầu chia thừa kế tài sản của ông M cho hai con chung của bà và ông M nhưng bà X - vợ ông M không đồng ý vì cho rằng con ngoài giá thú không được quyền hưởng thừa kế. Hai bên xảy ra tranh chấp.
Hỏi: Con ngoài giá thú có được hưởng thừa kế không?
Trả lời:
Ông M chết không để lại di chúc, nên việc chia thừa kế di sản của ông M được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Theo khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định những người thừa kế theo pháp luật ở hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
Bộ luật dân sự không phân biệt quyền thừa kế theo pháp luật của con trong giá thú hay ngoài giá thú đối với di sản của cha. Vì vậy, nếu bà C có đầy đủ chứng cứ để chứng minh hai người con của bà là con của ông M, thì hai người này vẫn được pháp luật bảo vệ quyền được hưởng thừa kế.
Như vậy, di sản của ông M sẽ được chia đều cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất của ông bao gồm: bà X (vợ ông M); cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi của ông M (nếu còn sống); con đẻ của ông M (bao gồm con chung của ông M và bà X, con chung của ông M và bà C); con nuôi của ông M (nếu có).
76. Ông A lập di chúc phân chia tài sản của mình cho 2 người con của ông mỗi người một ngôi nhà trị giá khoảng 400 triệu đồng và tặng cho người cháu họ của ông 20 triệu đồng. Tuy nhiên trước khi mất, ông A có vay của ông H 50 triệu đồng chưa kịp trả. Hai người con của ông A đưa ra cách giải quyết là mỗi người con sẽ góp 20 triệu đồng, còn người cháu của ông A góp 10 triệu đồng để trả nợ cho ông A. Người cháu họ không đồng ý. Các bên xảy ra tranh chấp.
Hỏi: Người cháu họ của ông A có phải đóng góp tiền để trả nợ cho ông A không?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 615 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Đồng thời, Khoản 1 Điều 646 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác. Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc.
Như vậy, khác với việc định đoạt tài sản cho người thừa kế được hưởng theo di chúc, việc di tặng thực chất là một hợp đồng tặng cho tài sản với điều kiện là khi người có tài sản chết. Do việc di tặng thực chất là một hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện nên người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này. (Khoản 3 Điều 646 Bộ luật dân sự năm 2015).
Đối chiếu với quy định trên, trong trường hợp này, người cháu họ của ông A không phải đóng góp tiền để trả nợ cho ông A. Nghĩa vụ này thuộc về hai người con của ông A.
77. Bà T qua đời đột ngột không để lại di chúc. Ông C - chồng của bà T muốn lấy vợ hai, nên 3 người con của bà T và ông C muốn chia di sản bà T để lại. Ông C kiên quyết phản đối, cho rằng tài sản của bà T cũng là tài sản của ông nên bà T chết thì tài sản đó là của ông. Bố con ông C xảy ra mâu thuẫn.
Hỏi: Trong trường hợp này, di sản của bà T được chia như thế nào?
Trả lời:
Theo các quy định về thừa kế tại Bộ luật dân sự năm 2015, bà T chết không để lại di chúc định đoạt tài sản của mình thì di sản của bà T sẽ được chia theo pháp luật. Tại điểm a khoản 1, khoản 3, khoản 4 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
- Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Ở trường hợp nêu trên, trước hết phải xác định tài sản thuộc sở hữu của bà T bao gồm những gì (tài sản riêng của bà T và ½ số tài sản trong khối tài sản chung của vợ chồng ông C, bà T). Phần tài sản của bà T để lại sẽ chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà T.
78. Do trước đây hoàn cảnh gia đình khó khăn, lại đông con, bố mẹ đẻ của T đã đồng ý cho T đi làm con nuôi người khác. Việc nhận con nuôi này đã được Uỷ ban nhân dân xã công nhận và ghi vào sổ hộ tịch. Nay bố mẹ đẻ của T mất không để lại di chúc, các anh chị em ruột của T cho rằng T đã làm con nuôi người khác nên không được thừa kế tài sản của bố mẹ đẻ nữa. T không đồng ý và mâu thuẫn giữa các anh chị em xảy ra.
Hỏi: Trường hợp này, T có được thừa kế di sản của bố mẹ đẻ không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự 2015, những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Như vậy, bố mẹ đẻ anh T chết không để lại di chúc, thì việc chia thừa kế sẽ được thực hiện theo quy định nêu trên, anh T mặc dù đi làm con nuôi người khác nhưng vẫn thuộc hàng thừa kế thứ nhất, được thừa kế di sản của bố mẹ đẻ.
79. Mẹ chị H mất khi chị H mới 3 tuổi. Khi chị H được 5 tuổi thì bố chị H lấy vợ hai và có thêm 2 người con. Quan hệ giữa chị H và mẹ kế rất tốt. Nay bố và mẹ kế của chị H đều đã mất, cả hai người đều không để lại di chúc. Ba chị em chị H phân chia di sản bố mẹ để lại. Hai người em của chị H cho rằng chị H không được hưởng thừa kế đối với tài sản của mẹ kế. Chị H không đồng ý như vậy và các bên xảy ra tranh chấp.
Hỏi: Trong trường hợp này, pháp luật quy định việc phân chia tài sản như thế nào? Con riêng có được hưởng di sản thừa kế của bố dượng, mẹ kế không?
Trả lời:
Theo Điều 654 Bộ luật dân sự năm 2015 thì con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và thuộc hàng thừa kế thứ nhất.
Như vậy, trong trường hợp chị H và mẹ kế có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như mẹ con thì chị H được thừa kế di sản của mẹ kế. Vậy theo quy định của pháp luật, di sản của bố chị H và mẹ kế của chị H để lại sẽ được phân chia như sau:
- Di sản của bố chị H (bao gồm tài sản riêng của bố chị H và ½ khối tài sản chung của bố và mẹ kế chị H) sẽ chia đều cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất của bố chị H, cụ thể là: cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi hợp pháp của bố chị H (nếu còn sống) và các con của ông là chị H và hai người em.
- Di sản của mẹ kế chị H (bao gồm tài sản riêng của mẹ kế chị H và ½ khối tài sản chung của bố và mẹ kế chị H) sẽ chia đều cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất của mẹ kế chị H, bao gồm: cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi hợp pháp của mẹ kế chị H (nếu còn sống), hai người con đẻ của bà và chị H.
80. Chị C và anh K là vợ chồng chưa có con. Anh K chết đột ngột trong một vụ tai nạn lao động. Tài sản mà anh K để lại là căn hộ anh đã tự mình mua được trước khi kết hôn. Hai năm sau chị C dự định kết hôn với người khác và yêu cầu gia đình anh K chia cho chị một phần di sản của anh K nhưng bố mẹ anh K không đồng ý.
Hỏi yêu cầu của chị C có đúng không?
Trả lời:
Theo khoản 3 Điều 655 Bộ luật dân sự năm 2015 thì: “Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản.”.
Anh K chết đột ngột không để lại di chúc nên tài sản của anh K để lại sẽ được chia theo pháp luật. Theo quy định trên của pháp luật thì chị C vẫn được hưởng thừa kế di sản của anh K. Di sản của anh K sẽ được chia cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất gồm: chị C, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi của anh K.
81. Ông D lấy bà B là vợ thứ hai và có 2 con chung. Ông D có một người con riêng bị tàn tật sống với mẹ đẻ là vợ cũ của ông D, hàng tháng ông có nghĩa vụ cấp dưỡng cho người con này. Nay ông D đột ngột qua đời. Bà B và vợ cũ của ông D tranh chấp nhau về việc thanh toán tiền cấp dưỡng cho người con riêng của ông D từ di sản của ông D. Vợ cũ của ông D yêu cầu bà B phải tiếp tục thay ông D thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; bà B không đồng ý vì cho rằng đây là nghĩa vụ của ông D, nay ông D mất thì việc thực hiện nghĩa vụ này sẽ chấm dứt.
Hỏi: Vấn đề này được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 615 Bộ luật dân sự năm 2015, những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Theo quy định tại Điều 658 Bộ luật dân sự năm 2015, khoản tiền cấp dưỡng còn thiếu là một trong những nghĩa vụ tài sản phải thanh toán lấy từ di sản của người đã chết. Tuy nhiên cần lưu ý là chỉ dùng di sản để thanh toán cho khoản tiền cấp dưỡng còn thiếu, chứ không phải để tiếp tục thực hiện việc cấp dưỡng cho người được cấp dưỡng. Vì nghĩa vụ này gắn liền với nhân thân của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và không thể chuyển giao cho người khác.
Nghĩa vụ cấp dưỡng cho người con tàn tật của ông D là nghĩa vụ gắn với nhân thân của ông D nên sẽ chấm dứt khi ông D chết. Bà B và các con của bà không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đó.
Chính vì vậy, theo quy định của pháp luật, khi ông D chết, di sản của ông D sau khi trừ các khoản tiền để thanh toán cho các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế theo thứ tự quy định tại Điều 658 Bộ luật dân sự năm 2015, trong đó có việc thanh toán tiền cấp dưỡng còn thiếu, tính đến thời điểm ông D chết; phần còn lại chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông là: bố, mẹ, bố nuôi, mẹ nuôi của ông D (nếu còn sống), bà B và 3 người con của ông D.
82. Ông A và ông B là đối tác trong kinh doanh. Trước khi chết, ông A có vay của ông B một khoản tiền lớn để mở rộng kinh doanh. Ông A chết đột ngột không để lại di chúc. Vợ con ông A thanh toán 1/2 khoản tiền mà ông A vay ông B từ di sản của ông A do thực tế chỉ đủ thanh toán số lượng như vậy, nhưng ông B yêu cầu phải thanh toán đủ. Hai bên xảy ra tranh chấp.
Hỏi: Theo quy định của pháp luật, việc thanh toán khoản nợ này của ông A cũng như việc chia thừa kế di sản của ông A được thực hiện như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 658 Bộ luật dân sự năm 2015, di sản của ông A sau khi dùng để thanh toán cho các nghĩa vụ tài sản của ông và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế như chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng, tiền cấp dưỡng còn thiếu, chi phí cho việc bảo quản di sản, tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ, tiền công lao động, tiền bồi thường thiệt hại, thuế và các khoản phải nộp khác vào ngân sách nhà nước; số tiền còn lại sẽ dùng để trả các khoản nợ của ông A đối với cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác (trong đó có ông B).
Trường hợp sau khi thanh toán hết các khoản nêu trên mà còn thừa thì tiếp tục thanh toán tiền phạt, các chi phí khác, số còn lại sẽ được chia đều cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất của ông A.
Trường hợp di sản của ông A sau khi được phân chia theo thứ tự nêu trên mà không đủ để thanh toán khoản nợ đối với ông B thì vợ con ông A không có nghĩa vụ phải thanh toán đủ số tiền mà ông A nợ ông B. Vì theo quy định tại Điều 615 Bộ luật dân sự năm 2015, những người thừa kế của ông A chỉ phải trả nợ trong phạm vi di sản do ông A để lại.
83. Trước khi kết hôn, khoản tiền bố mẹ cho cộng với tiền tự tích góp được, anh A mua ngôi nhà cấp 4 có diện tích 35m2. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chưa có con, anh A chết do bị tai nạn giao thông, không để lại di chúc. Bố mẹ anh A yêu cầu bán nhà để chia thừa kế. Tuy nhiên, chị B hiện thu nhập thấp, nếu bán nhà trong lúc này chị B không có chỗ ở nào khác và cũng chưa có điều kiện để thu xếp một chỗ ở mới nên có xin bố mẹ anh A một thời gian nữa hãy bán nhà để chị có thời gian thu xếp. Do sẵn có ác cảm với con dâu, bố mẹ anh A không đồng ý, hai bên xảy ra mâu thuẫn.
Hỏi: Theo quy định pháp luật, tình huống trên được giải quyết thế nào?
Trả lời:
Ngôi nhà này là tài sản anh A có được trước khi kết hôn nên thuộc tài sản riêng của anh A. Theo quy định của pháp luật, di sản của anh A bao gồm tài sản riêng của anh A, ½ số tài sản của anh A trong khối tài sản chung của vợ chồng anh A sẽ được chia thừa kế cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh A (bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi (nếu có) và vợ anh A - chị B). Tuy nhiên, trong trường hợp này, nếu bán nhà để chia di sản thừa kế của anh A sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của chị B, do chị B thu nhập thấp, không có chỗ ở nào khác và cũng chưa có điều kiện để thu xếp một chỗ ở mới, nên theo quy định tại Điều 661 Bộ luật dân sự năm 2015, chị B có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định. Thời hạn này không quá 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn 03 năm mà chị B chứng minh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình họ thì có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quá 03 năm.
Căn cứ vào quy định nêu trên, các bên nên tự thoả thuận xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời gian nhất định nhưng tối đa không quá 06 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Trong thời gian đó, chị B cần cố gắng thu xếp được chỗ ở mới. Nếu hết thời hạn 06 năm thì dù chưa thu xếp được chỗ ở, bố mẹ anh A vẫn có quyền yêu cầu Toà án cho chia di sản thừa kế.
84. Ông bà S có người con đẻ là anh H và người con nuôi là chị X. Ông bà S nhận chị X về nuôi từ lúc chị X lên 1 tuổi và đã làm thủ tục đăng ký tại UBND xã. Sau khi ông bà S mất, chị X yêu cầu được chia tài sản của ông bà S để lại nhưng anh H không đồng ý vì cho rằng chị X là con nuôi của bố mẹ anh nên toàn bộ số tài sản đó thuộc quyền sở hữu của anh.
Hỏi: Chị X có được thừa kế tài sản của ông bà S để lại không?
Trả lời: Chị X được thừa kế tài sản của ông bà S để lại.
Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015, những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
Theo quy định tại Điều 653 Bộ luật dân sự năm 2015, con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau.
Như vậy, ông bà S không để lại di chúc nên việc phân chia tài sản của ông bà để lại được thực hiện theo pháp luật. Chị X là con nuôi cũng được quyền hưởng một phần tài sản mà ông bà S để lại như anh H. Trường hợp anh H vẫn không đồng ý thì chị X có quyền khởi kiện tại Toà án. Tuy nhiên, việc giải quyết ở Toà án sẽ phải tốn thời gian, công sức và chi phí và làm mất đi tình cảm anh em.
Chuyên đề 3
LĨNH VỰC PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
MỤC LỤC
Trang
|
A. KIẾN THỨC PHÁP LUẬT………………………………………
|
185
|
|
I. Một số quy định chung…………………………………………………
|
185
|
|
1. Nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình…………………..
|
185
|
|
2. Các hành vi bị cấm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình…………….
|
185
|
|
II. Kết hôn………………………………………………………………
|
187
|
|
1. Khái niệm………………………………………………………………
|
187
|
|
2. Điều kiện kết hôn…………………………………………………….
|
188
|
|
3. Đăng ký kết hôn………………………………………………………
|
189
|
|
4. Hủy việc kết hôn trái pháp luật; xử lý việc kết hôn trái pháp luật; hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật……………………………….
|
190
|
|
5. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn……………………………………………..
|
192
|
|
III. Quan hệ giữa vợ và chồng………………………………………….
|
192
|
|
1. Quyền và nghĩa vụ về nhân thân ……………………………………
|
192
|
|
2. Đại diện giữa vợ và chồng………………………………………….
|
193
|
|
3. Chế độ tài sản của vợ chồng…………………………………………
|
196
|
|
IV. Chấm dứt hôn nhân………………………………………………….
|
205
|
|
1. Ly hôn…………………………………………………………………..
|
205
|
|
2. Hôn nhân chấm dứt do vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết…
|
212
|
|
V. Quan hệ giữa cha mẹ và con…………………………………………….
|
214
|
|
1. Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con………………………………..
|
214
|
|
2. Xác định cha, mẹ, con…………………………………………………...
|
220
|
|
VI. Quan hệ giữa các thành viên khác của gia đình………………………
|
221
|
|
1. Quyền, nghĩa vụ của ông bà nội, ông bà ngoại và cháu…………….….
|
221
|
|
2. Quyền, nghĩa vụ của anh, chị, em…………………………………...…...
|
222
|
|
3. Quyền, nghĩa vụ của cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột……………...
|
222
|
|
VII. Cấp dưỡng……………………………………………………………..
|
222
|
|
1. Nghĩa vụ cấp dưỡng ………………………………………………….
|
222
|
|
2. Phương thức và mức cấp dưỡng…………………………………………
|
224
|
|
3. Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng………………………………………….
|
224
|
|
VIII. Bạo lực gia đình…………………………………………………….
|
225
|
|
1. Khái niệm bạo lực gia đình, các hành vi bạo lực gia đình…………….
|
225
|
|
2. Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình……………………
|
226
|
|
3. Phòng ngừa bạo lực gia đình…………………………………………..
|
227
|
|
4. Bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình……………………………
|
229
|
|
5. Trách nhiệm của cá nhân, gia đình trong phòng, chống bạo lực gia đình……
|
230
|
|
6. Các biện pháp xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình…………………………………………………………
|
231
|
|
B. TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT................................................................
|
232
|
|
C. VĂN BẢN PHÁP LUẬT.......................................................................
|
271
|
A. KIẾN THỨC PHÁP LUẬT
I. Một số quy định chung
1. Nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình
Nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình là nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình. Nội dung của các nguyên tắc cơ bản này thể hiện quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình ở Việt Nam, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên gia đình.
Để bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, tại Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (sau đây gọi là Luật hôn nhân và gia đình) quy định những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình gồm:
- Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.
- Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
- Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con.
- Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình.
- Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình.
2. Các hành vi bị cấm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xậy dựng và bảo vệ tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Để nâng cao trách nhiệm của công dân, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam, pháp luật quy định quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật. Theo đó, pháp luật nghiêm cấm các hành vi sau đây:
- Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo. Trong đó, kết hôn giả tạo được hiểu là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình. Ly hôn giả tạo là việc lợi dụng ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân.
- Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn.
Tảo hôn được hiểu là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định (nam chưa đủ 20 tuổi, nữ chưa đủ 18 tuổi).
Cưỡng ép kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn.
Cản trở kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ. Trong đó, chung sống như vợ chồng được hiểu là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.
- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.
Những người cùng dòng máu về trực hệ là cha, mẹ với con; ông, bà với cháu nội, cháu ngoại.
Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba.
Về mặt y học nếu thế hệ cha mẹ càng xa bao nhiêu thì thế hệ con càng tiếp thu các mặt tích cực của cha mẹ bấy nhiêu và ngược lại. Cấm kết hôn trong trường hợp này nhằm duy trì, bảo vệ thuần phong, mỹ tục, đạo đức truyền thống cũng như đảm bảo việc phát triển lành mạnh của các thế hệ sau này, tránh sự suy thoái nòi giống.
Luật hôn nhân và gia đình cấm cả những người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, đã từng là cha chồng với con dâu, đã từng là mẹ vợ với con rể, đã từng là cha dượng với con riêng của vợ, đã từng là mẹ kế với con riêng của chồng. Trên thực tế, giữa những người này không có quan hệ về huyết thống, nhưng trước đây giữa họ đã có mối quan hệ cha, mẹ - con và có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng. Việc quy định cấm những người đó kết hôn với nhau nhằm bảo vệ, giữ gìn đạo lý của dân tộc, ổn định mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, phù hợp với đạo đức xã hội và truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam.
- Yêu sách của cải trong kết hôn.
- Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn. Trong đó, cưỡng ép ly hôn được hiểu là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải ly hôn trái với ý muốn của họ.
Cản trở ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải duy trì quan hệ hôn nhân trái với ý muốn của họ.
- Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính. Trong đó, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được hiểu là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm. Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác.
- Bạo lực gia đình. Trong đó, bạo lực gia đình được hiểu là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.
- Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.
II. Kết hôn
1. Khái niệm
Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.
Theo đó, nam nữ kết hôn phải đảm bảo hai yếu tố: thứ nhất, thể hiện ý chí của nam, nữ muốn kết hôn với nhau; thứ hai, việc kết hôn phải tuân theo điều kiện và thủ tục do pháp luật quy định mới được thừa nhận.
2. Điều kiện kết hôn
Để hướng tới xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, hôn nhân tự nguyện tiến bộ, pháp luật quy định nam, nữ kết hôn phải tuân theo các điều kiện sau đây:
2.1. Phải đủ tuổi kết hôn
Luật hôn nhân và gia đình quy định nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên mới có quyền kết hôn.
Việc pháp luật quy định độ tuổi kết hôn là căn cứ vào sự phát triển tâm sinh lý của con người, bảo đảm sự phát triển giống nòi, bảo đảm cho các bên nam, nữ có đủ điều kiện về sức khoẻ và khả năng chăm lo cuộc sống gia đình. Ngoài ra, việc quy định độ tuổi kết hôn còn khẳng định chính sách pháp luật của Nhà nước ta không phân biệt dân tộc kinh hay dân tộc thiểu số, nhằm tránh việc tảo hôn, loại bỏ tập quán lấy vợ, chồng sớm ở đồng bào các dân tộc thiểu số, đảm bảo sự trưởng thành về thể chất và trí tuệ cho nam, nữ để họ thực hiện tốt chức năng của mình đối với gia đình và xã hội.
Cơ sở để xác định tuổi kết hôn là Giấy khai sinh được cơ quan có thẩm quyền về hộ tịch cấp.
2.2. Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định
Hôn nhân tự nguyện tiến bộ là nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình. Tự nguyện kết hôn là việc hai bên nam nữ thể hiện sự đồng ý trở thành vợ chồng của nhau mà không bị tác động của bên kia hay của bất kỳ người nào khác. Đây là điều kiện quan trọng nhằm bảo đảm cho hôn nhân được xây dựng trên nguyên tắc tự nguyện, cho phép nam, nữ đến độ tuổi kết hôn có quyền bày tỏ ý chí của mình trong việc chọn người "bạn đời", làm cơ sở cho cuộc hôn nhân của họ được hạnh phúc, bền vững.
2.3. Không bị mất năng lực hành vi dân sự
Theo quy định của Bộ luật dân sự, khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần. Người mất năng lực hành vi dân sự là người mất khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Vì vậy, họ không được kết hôn do không thể hiện được sự tự nguyện kết hôn, không nhận thức được trách nhiệm làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ trong đời sống gia đình.
Bên cạnh đó, theo quy định Bộ luật dân sự thì mọi giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. Trong khi đó, quyền kết hôn, ly hôn là quyền nhân thân của mỗi người không thể do người đại diện thực hiện. Do đó, để được kết hôn, một điều kiện bắt buộc là nam, nữ phải không bị mất năng lực hành vi dân sự.
2.4. Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp: Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo; tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ; kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.
Người cùng giới tính là nam với nam hoặc nữ với nữ. Việc kết hôn giữa những người cùng giới tính không bảo đảm chức năng của hôn nhân là duy trì nòi giống. Do vậy, Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
Nhằm tránh có cách hiểu và can thiệp hành chính vào cuộc sống giữa những người cùng giới tính, đồng thời thể hiện quan điểm hôn nhân phải là sự liên kết giữa hai người khác giới tính, bên cạnh việc quy định các điều kiện kết hôn như trên, pháp luật quy định Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
3. Đăng ký kết hôn
Đăng ký kết hôn là thủ tục do Nhà nước quy định nhằm công nhận việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai bên nam nữ là hợp pháp, là cơ sở pháp lý để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Pháp luật quy định sự kiện kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật về hộ tịch. Đăng ký kết hôn là biện pháp để Nhà nước có thể kiểm tra và kịp thời ngăn chặn các hiện tượng vi phạm điều kiện kết hôn.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật về hộ tịch thì không có giá trị pháp lý.
Trường hợp vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn.
Pháp luật quy định, đối với kết hôn trong nước không có yếu tố nước ngoài, việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ thực hiện đăng ký kết hôn.
Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài.
Trường hợp người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có yêu cầu đăng ký kết hôn tại Việt Nam thì Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của một trong hai bên thực hiện đăng ký kết hôn.
Cơ quan đại diện thực hiện đăng ký kết hôn cho công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài, nếu việc đăng ký đó không trái pháp luật của nước tiếp nhận và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
4. Hủy việc kết hôn trái pháp luật; xử lý việc kết hôn trái pháp luật; hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật
4.1. Nguyên tắc xử lý
Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn.
Nhà nước không thừa nhận những trường hợp nam nữ kết hôn mà không tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn. Theo Điều11 Luật hôn nhân và gia đình thì việc xử lý trường hợp kết hôn trái pháp luật được Tòa án thực hiện theo quy định tại Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật về tố tụng dân sự.
Theo đó, về nguyên tắc, việc kết hôn trái pháp luật phải bị hủy. Tuy nhiên, đúc kết từ thực tiễn xét xử của Tòa án và để tránh máy móc trong việc giải quyết, pháp luật quy định nếu đến thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân cho họ thì Tòa án công nhận hôn nhân đó là hợp pháp. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Quyết định của Tòa án về việc hủy kết hôn trái pháp luật hoặc công nhận quan hệ hôn nhân phải được gửi cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch; hai bên kết hôn trái pháp luật; cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
Trong việc hủy kết hôn trái pháp luật, Luật hôn nhân và gia đình quy định người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật gồm:
- Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 2 dưới đây yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định về điệu kiện tự nguyện kết hôn.
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại các điểm a, c và d khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình:
+ Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;
+ Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
+ Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
+ Hội liên hiệp phụ nữ.
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì có quyền đề nghị cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.
Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật
a) Về quan hệ nhân thân. Về nguyên tắc, Nhà nước không thừa nhận và bảo hộ việc hai người kết hôn trái pháp luật là vợ chồng kể từ thời điểm kết hôn cho tới khi có yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn đó. Trong thời gian này, giữa họ chưa từng phát sinh quan hệ vợ chồng. Quan hệ vợ chồng giữa họ sẽ không có giá trị pháp lý. Do vậy, khi Tòa án tuyên bố hủy kết hôn trái pháp luật, thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.
b) Về quan hệ cha, mẹ, con
Quan hệ giữa cha mẹ, con phát sinh trên cơ sở huyết thống, nuôi dưỡng, không phụ thuộc vào quan hệ của cha mẹ có hợp pháp hay không, còn tồn tại hay đã chấm dứt. Hai người kết hôn trái pháp luật tuy không phải là vợ chồng nhưng vẫn là cha và mẹ của con chung. Do đó, quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn.
c) Về quan hệ tài sản
Do việc hai bên nam nữ kết hôn trái pháp luật nên giữa họ không phát sinh quan hệ vợ chồng, tài sản mà họ tạo dựng trong thời gian chung sống không phải là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng mà là tài sản chung theo phần. Theo đó, khi Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật, quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.
5. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
Theo quy định của pháp luật, việc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không làm phát sinh quan hệ hôn nhân. Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.
Trong trường hợp nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình chung sống như vợ chồng nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân chỉ được xác lập từ ngày đăng ký kết hôn.
III. Quan hệ giữa vợ và chồng
1. Quyền và nghĩa vụ về nhân thân
Quyền và nghĩa vụ về nhân thân giữa vợ và chồng là những quyền và nghĩa vụ mang tính chất tình cảm, tinh thần giữa vợ, chồng và gắn liền với vợ, chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân.
Theo pháp luật hôn nhân và gia đình, vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Khoản 1 Luật bình đẳng giới quy định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình”.
Quyền, nghĩa vụ về nhân thân của vợ, chồng quy định tại Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan được tôn trọng và bảo vệ.
Quyền và nghĩa vụ về nhân thân của vợ, chồng được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình như sau:
- Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
- Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.
- Việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính.
- Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau.
- Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau.
- Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ tạo điều kiện, giúp đỡ nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
2. Đại diện giữa vợ và chồng
Tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật dân sự 2015 quy định, đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.
Trong giao dịch dân sự, phần lớn các chủ thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp vì nhiều nguyên do như bệnh tật, ốm đau, điều kiện công tác… mà một người cần một người khác thay mình thực hiện công việc nhất định.
Có thể thấy, quyền đại diện giữa vợ chồng là một trong những quyền phản ánh cao nhất sự bình đẳng giữa vợ và chồng. Đại diện sẽ là phương thức pháp lý cần thiết trong việc thực hiện các quyền của chủ sở hữu tài sản trong gia đình, đảm bảo cho mọi giao dịch dân sự hợp pháp được tiến hành nhanh chóng, thuận lợi. Điều này thể hiện rõ nhất trong tình huống người chồng đi làm ăn xa, chỉ có người vợ ở nhà. Người vợ có quyền thế chấp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng để vay vốn, sản xuất kinh doanh nếu người chồng đã có văn bản ủy quyền cho người vợ thay mặt mình thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản chung trong lúc người chồng đi vắng. Hoặc là khi người chồng mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi, quyền đại diện sẽ tạo điều kiện cho người phụ nữ thực hiện các giao dịch vì lợi ích của người chồng cũng như của bản thân mình và các nhu cầu chung của gia đình. Quyền đại diện giữa vợ và chồng là một trong những nội dung cơ bản để thực hiện bình đẳng giới. Quyền đại diện giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của vợ chồng.
Theo pháp luật hôn nhân và gia đình, vấn đề đại diện giữa vợ chồng được quy định như sau:
2.1. Căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng
Vấn đề đại diện giữa vợ và chồng được xác lập dựa trên các căn cứ sau:
- Việc đại diện giữa vợ và chồng trong xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch được xác định theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
- Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.
- Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ có liên quan.
Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự, Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn.
2.2. Đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh
Pháp luật quy định, trong trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung thì vợ, chồng trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh là người đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó, trừ trường hợp trước khi tham gia quan hệ kinh doanh, vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc Luật hôn nhân và gia đình và các luật liên quan có quy định khác.
Trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó.
2.3. Đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng
Việc đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản chung có giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên vợ hoặc chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 24 và Điều 25 của Luật hôn nhân và gia đình về căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng và về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh.
Trong trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật hôn nhân và gia đình thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi.
2.4. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng
- Nhằm ràng buộc trách nhiệm của vợ chồng đối với nhau, đối với cuộc sống gia đình, đồng thời bảo đảm quyền lợi của người thứ ba tham gia xác lập giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, pháp luật quy định vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật hôn nhân và gia đình. Điều này có nghĩa là khi vợ chồng thực hiện giao dịch dân sự nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình thì được nhiên được coi là có sự thỏa thuận của hai vợ chồng và hai vợ chồng cùng liên đới chịu trách nhiệm. Mặc dù giao dịch chỉ do một bên vợ hoặc chồng thực hiện với người thứ ba song không vì thế mà bên vợ hoặc chồng có thể yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu do chưa có sự đồng ý của mình.
- Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, ví dụ: nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập; nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình.
3. Chế độ tài sản của vợ chồng
Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp những quy định điều chỉnh các quan hệ về tài sản của vợ chồng (quan hệ tài sản trong hôn nhân). Chế độ này chi phối quyền sở hữu tài sản của vợ chồng cũng như việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của họ trong suốt thời kỳ hôn nhân. Cụ thể hơn, chế độ tài sản của vợ chồng xác định những tài sản nào là tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng; quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, tài sản riêng; quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng trong việc thực hiện các giao dịch; thanh toán, phân chia tài sản.
Theo khoản 1 Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình, thì vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận. Khoản 2 Luật bình đẳng giới quy định: “Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình”.
3.1. Chế độ tài sản theo luật định
Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng trong trường hợp vợ chồng không lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc có thỏa thuận về chế độ tài sản nhưng thỏa thuận này bị Tòa án tuyên bố vô hiệu. Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được quy định tại các điều từ Điều 33 đến Điều 46 và từ Điều 59 đến Điều 64 của Luật hôn nhân và gia đình. Cụ thể:
a) Tài sản chung của vợ chồng
- Xác định tài sản chung của vợ chồng
Dựa vào nguồn gốc, thời điểm phát sinh tài sản, pháp luật quy định tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Trong đó:
Hoa lợi phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là sản vật tự nhiên mà vợ, chồng có được từ tài sản riêng của mình.
Lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là khoản lợi mà vợ, chồng thu được từ việc khai thác tài sản riêng của mình.
Thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân gồm:
+ Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp, trừ khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng.
+ Tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật dân sự đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước.
+ Thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Quyền sử dụng đất là một loại tài sản mang những nét đặc thù riêng nên pháp luật quy định quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất[7], được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
- Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung
Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Pháp luật quy định tài sản chung của vợ chồng phải đăng ký bao gồm quyền sử dụng đất, những tài sản khác mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu.
Đối với tài sản chung của vợ chồng đã được đăng ký và ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì vợ, chồng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất để ghi tên của cả vợ và chồng. Giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật hôn nhân và gia đình; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì tài sản đó được coi là tài sản chung nếu không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên.
Trong trường hợp tài sản chung được chia trong thời kỳ hôn nhân mà trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên cả vợ và chồng thì bên được chia phần tài sản bằng hiện vật có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký tài sản cấp lại giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở văn bản thỏa thuận của vợ chồng hoặc quyết định của Tòa án về chia tài sản chung.
- Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung
Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận. Trong trường hợp vợ hoặc chồng xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì được coi là có sự đồng ý của bên kia, trừ trường hợp định đoạt tài sản chung là bất động sản; động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu; tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.
Trong trường hợp vợ hoặc chồng định đoạt tài sản chung là bất động sản; động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu; tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu.
- Tài sản chung được đưa vào kinh doanh
Trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó. Thỏa thuận này phải lập thành văn bản.
Vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.
- Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
Pháp luật quy định vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
+ Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
+ Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
+ Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
+ Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
+ Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
+ Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.
- Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; hoặc nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản; nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức; nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước; nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án sẽ giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn.
Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
- Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.
Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định.
Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
- Hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là trường hợp chia tài sản đặc biệt. Sau khi chia tài sản chung của vợ chồng, quan hệ tài sản đã có sự thay đổi cơ bản. Hình thức sở hữu chung hợp nhất chấm dứt, thay vào đó là hai chủ sở hữu riêng biệt đối với khối tài sản chung được tách ra. Tuy nhiên, do quan hệ vợ chồng vẫn còn tồn tại do vợ chồng chưa ly hôn nên việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.
Từ thời điểm việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, nếu tài sản có được từ việc khai thác tài sản riêng của vợ, chồng mà không xác định được đó là thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh của vợ, chồng hay là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đó thì thuộc sở hữu chung của vợ chồng.
Ngoài ra, để bảo đảm tính ổn định của các quan hệ tài sản được vợ chồng xác lập trước đó với người thứ ba, pháp luật quy định thỏa thuận của vợ chồng về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba.
- Chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung. Thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày thỏa thuận nêu trên của vợ chồng có hiệu lực thì việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 33 và Điều 43 của Luật hôn nhân và gia đình. Phần tài sản mà vợ, chồng đã được chia vẫn thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Trong trường hợp việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án thì thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung phải được Tòa án công nhận.
b) Tài sản riêng của vợ chồng
Để phù hợp với chế định quyền sở hữu riêng về tài sản của công dân đã được quy định tại Điều 32 Hiến pháp năm 2013, phù hợp với nguyên tắc tự định đoạt tài sản của công dân, đồng thời nhằm bảo đảm cho vợ chồng có thể thực hiện nghĩa vụ về tài sản một cách độc lập, không phụ thuộc vào ý chí của bên kia, pháp luật quy định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng.
- Xác lập tài sản riêng của vợ, chồng
Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật hôn nhân và gia đình; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng. Trong đó, tài sản riêng khác của vợ, chồng theo quy định của pháp luật, gồm:
+ Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ.
+ Tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác.
+ Khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng.
Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật hôn nân và gia đình.
- Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng
Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.
Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.
Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.
Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ.
Theo đó, để bảo đảm duy trì đời sống gia đình ổn định, bền vững, ràng buộc trách nhiệm của vợ chồng đối với gia đình, thì vợ hoặc chồng không có quyền đơn phương định đoạt tài sản riêng của mình nếu việc làm đó dẫn đến hậu quả là ảnh hưởng đến nguồn sống duy nhất của gia đình. Ví dụ: vợ, chồng không được đơn phương bán nhà thuộc sở hữu riêng của mình trong khi tiền cho thuê ngôi nhà này là nguồn sống duy nhất của gia đình.
- Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng
Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:
+ Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;
+ Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình;
+ Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;
+ Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.
Do vậy, việc pháp luật quy định vợ chồng có tài sản riêng không làm ảnh hưởng đến tính chất của quan hệ hôn nhân và cũng không làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình. Bởi trên thực tế, khi vợ chồng chung sống hạnh phúc thì họ cũng có thể thỏa thuận để người có tài sản riêng nhập tài sản riêng của mình vào tài sản chung của vợ chồng.
- Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung
Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.
Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó.
Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
3.2. Chế độ tài sản theo thỏa thuận
a) Hình thức, hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng
Pháp luật quy định, trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn; trong trường hợp việc kết hôn không xảy ra, thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng đã được công chứng hoặc chứng thực sẽ mặc nhiên bị vô hiệu.
b) Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng
Các nội dung của chế độ tài sản do vợ chồng quyết định, vì thế pháp luật không đưa ra những điều khoản cụ thể về vấn đề này. Luật hôn nhân và gia đình chỉ quy định thỏa thuận của vợ chồng phải xác định những nội dung cơ bản để tạo thuận lợi cho việc thực hiện chế độ tài sản và giải quyết tranh chấp. Những nội dung đó bao gồm:
- Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng;
- Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;
- Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;
- Nội dung khác có liên quan.
Tuy nhiên, đây không phải là quy định về điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận của vợ chồng. Chính vì vậy, khi thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật hôn nhân và gia đình và quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định.
Điều 15 Nghị định 126/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31/12/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định cụ thể hơn về xác định tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận như sau:
“1. Trường hợp lựa chọn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì vợ chồng có thể thỏa thuận về xác định tài sản theo một trong các nội dung sau đây:
a) Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng;
b) Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung;
c) Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó;
d) Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng.
2. Thỏa thuận về tài sản của vợ chồng phải phù hợp với quy định tại các Điều 29, 30, 31 và 32 của Luật hôn nhân và gia đình. Nếu vi phạm, người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận vô hiệu theo quy định tại Điều 50 của Luật hôn nhân và gia đình.”
Trên cơ sở thừa nhận quyền tự do thỏa thuận của vợ chồng về chế độ tài sản, pháp luật quy định vợ chồng có quyền sửa đổi, bổ sung thỏa thuận về chế độ tài sản.
Theo đó, trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được áp dụng thì trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận sửa đổi, bổ sung một phần hoặc toàn bộ nội dung của chế độ tài sản đó hoặc áp dụng chế độ tài sản theo luật định.
Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.
Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng có hiệu lực từ ngày được công chứng hoặc chứng thực. Vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp cho người thứ ba biết về những thông tin liên quan về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận khi xác lập, thực hiện giao dịch; nếu vợ, chồng vi phạm nghĩa vụ này thì người thứ ba được coi là ngay tình và được bảo vệ quyền lợi theo quy định của Bộ luật dân sự
Quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm việc sửa đổi, bổ sung chế độ tài sản của vợ chồng có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
d) Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu
Khi thừa nhận vợ chồng có quyền xác lập chế độ tài sản theo thỏa thuận, pháp luật cũng đặt ra những quy định để bảo đảm những thỏa thuận của vợ chồng không đi ngược lại với bản chất của hôn nhân, lợi ích chung của gia đình và không xâm hại lợi ích của người thứ ba. Nếu vi phạm các quy định này, thỏa thuận của vợ chồng sẽ bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi có yêu cầu của những người có quyền và lợi ích liên quan. Đó là cơ chế kiểm soát đối với những thỏa thuận của vợ chồng về chế độ tài sản của họ. Cụ thể, Luật hôn nhân và gia đình quy định cụ thể những trường hợp thỏa thuận của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một các trường hợp sau đây:
- Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định trong Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan. Thỏa thuận của vợ chồng là một giao dịch, vì thế nó phải tuân theo những quy định chung của pháp luật về những điều kiện có hiệu lực. Nếu không đáp ứng các điều kiện, thỏa thuận của vợ chồng cũng sẽ bị tuyên bố vô hiệu;
- Vi phạm một trong các quy định chung của chế độ tài sản của vợ chồng từ Điều 29 đến 32 Luật hôn nhân và gia đình;
- Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình.
IV. Chấm dứt hôn nhân
Theo quy định của pháp luật, hôn nhân chấm dứt trong 02 trường hợp sau: Thứ nhất, chấm dứt hôn nhân khi phán quyết ly hôn của tòa án có hiệu lực pháp luật; thứ hai, chấm dứt hôn nhân do vợ, chồng chết hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết.
1. Ly hôn
Theo khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình thì ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
1.1. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn
Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Nếu kết hôn là nhằm xác lập quan hệ vợ chồng thì ly hôn được đặt ra khi hạnh phúc gia đình không còn tồn tại, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Thực hiện nguyên tắc hôn nhân tự nguyện và tiến bộ, bảo đảm quyền tự do hôn nhân bao gồm quyền tự do kết hôn của nam nữ và tự do ly hôn của vợ chồng. Do quyền ly hôn là quyền nhân thân không thể chuyển giao, vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Cha, mẹ, người thân thích khác chỉ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Quy định này nhằm bảo vệ bà mẹ, trẻ em, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con chưa thành niên, phụ nữ có thai, thai nhi, cũng như bảo vệ lợi ích của xã hội. Đây là trường hợp hạn chế quyền ly hôn chỉ của người chồng mà không áp dụng đối với người vợ. Do đó, nếu người vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thấy hạnh phúc gia đình không còn tồn tại, mục đích của việc kết hôn không đạt được, cuộc sống chung nảy sinh nhiều mâu thuẫn, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, thai nhi hoặc con nhỏ thì người vợ có quyền yêu cầu ly hôn.
1.2. Hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn
Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật hòa giải ở cơ sở. Theo quy định tại Điều 3 Luật hòa giải ở cơ sở, điểm c khoản 1 Điều 5 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp bảo đảm thi hành Luật hòa giải ở cơ sở, hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các tranh chấp phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình như tranh chấp phát sinh từ quan hệ giữa vợ, chồng; quan hệ giữa cha mẹ và con; quan hệ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa anh, chị, em và giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; ly hôn.
Luật hôn nhân và gia đình quy định Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn.
1.3. Đường lối giải quyết ly hôn theo luật định
a) Thụ lý đơn yêu cầu ly hôn
Khi vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hợp lý, Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con thì giải quyết theo quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ với con trong trường hợp cha mẹ ly hôn, yêu cầu về tài sản thì giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.
b) Hòa giải tại Tòa án
Xuất phát từ lợi ích gia đình, quyền lợi của vợ chồng, các con cũng như các thành viên khác, với phương trâm kiên trì “còn nước, còn tát”, pháp luật quy định, sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Như vậy có thể thấy, đây là thủ tục pháp lý bắt buộc phải thực hiện sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn.
c) Giải quyết cho ly hôn
Có 02 trường hợp ly hôn theo luật định:
- Trường hợp thuận tình ly hôn. Đây là trường hợp cả hai vợ chồng đều yêu cầu tòa án cho phép họ được ly hôn. Tại Điều 91 Luật hôn nhân và gia đình quy định, trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.
- Trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên. Bên cạnh trường hợp vợ chồng thuận tình ly hôn, còn có trường hợp việc ly hôn chỉ xuất phát từ ý chí của một bên vợ hoặc chồng. Theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.
Pháp luật quy định, quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
d) Hậu quả pháp lý của ly hôn
- Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng: Theo nguyên tắc chung, kể từ khi bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật, quan hệ vợ chồng chấm dứt, người vợ, người chồng đã lý hôn có thể kết hôn với người khác. Điều này có nghĩa rằng quan hệ nhân thân giữa vợ chồng cũng đương nhiên chấm dứt.
- Chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn:
+ Nguyên tắc chia tài sản:
Việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn là một vấn đề phức tạp, thường có nhiều tranh chấp giữa vợ chồng khi ly hôn. Để bao quát hết tình trạng quan hệ tài sản của vợ chồng, pháp luật quy định về căn cứ giải quyết trên cơ sở nguyên tắc vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc chế độ tài sản theo luật định. Theo đó:
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 59 và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật hôn nhân và gia đình.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 59 và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết.
Về nguyên tắc, phần của vợ, chồng trong khối tài sản chung của vợ chồng là bằng nhau. Tuy nhiên, trong mỗi trường hợp cụ thể, để bảo đảm quyền lợi của mỗi bên, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Để Tòa án có cơ sở giải quyết những vụ việc liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng khi chấm dứt hôn nhân, pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba xác lập, phát sinh trong thời kỳ hôn nhân vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các Điều 27 - Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng; Điều 37 - Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng và Điều 45 - Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết.
+ Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình:
Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình.
+ Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn:
Theo Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình thì quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:
(i) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình.
Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;
(ii) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a quy định trên;
(iii) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình;
(iv) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.
Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định tại Điều 61 của Luật hôn nhân và gia đình.
+ Quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn:
Pháp luật quy định, nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
+ Chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh:
Vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.
đ) Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ không phụ thuộc vào quan hệ hôn nhân của cha mẹ có tồn tại hay không.
- Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được quy định như sau:
+ Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
+ Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
+ Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
- Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn:
+ Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
+ Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
+ Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn:
+ Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
+ Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn:
Trong trường hợp có căn cứ chứng minh người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì trên cơ sở lợi ích của con, người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:
+ Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;
+ Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.
Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.
2. Hôn nhân chấm dứt do vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết
2.1. Về thời điểm chấm dứt hôn nhân
Nếu kết hôn là sự kiện bình thường, xác lập quan hệ hôn nhân, là thời điểm đầu tiên của hôn nhân thì trường hợp vợ, chồng chết là thời điểm cuối cùng của hôn nhân. Điều 65 Luật hôn nhân và gia đình quy định rõ, hôn nhân chấm dứt kể từ thời điểm vợ hoặc chồng chết.
Trong trường hợp Tòa án tuyên bố vợ hoặc chồng là đã chết thì thời điểm hôn nhân chấm dứt được xác định theo ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án.
2.2. Về giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết
Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.
Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.
Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định nêu trên, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.
2.3. Quan hệ nhân thân, tài sản khi vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết mà trở về
- Quan hệ nhân thân: Khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết mà vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được khôi phục kể từ thời điểm kết hôn. Trong trường hợp có quyết định cho ly hôn của Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp vợ, chồng của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau có hiệu lực pháp luật.
- Quan hệ tài sản: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 67 Luật hôn nhân và gia đình, quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết trở về với người vợ hoặc chồng được giải quyết như sau:
+ Trong trường hợp hôn nhân được khôi phục thì quan hệ tài sản được khôi phục kể từ thời điểm quyết định của Tòa án hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực. Tài sản do vợ, chồng có được kể từ thời điểm quyết định của Tòa án về việc tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực đến khi quyết định hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người đó;
+ Trong trường hợp hôn nhân không được khôi phục thì tài sản có được trước khi quyết định của Tòa án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực mà chưa chia được giải quyết như chia tài sản khi ly hôn.
V. Quan hệ giữa cha mẹ và con
Theo luật định, căn cứ phát sinh quan hệ giữa cha mẹ và con dựa trên sự kiện sinh đẻ và nhận nuôi con nuôi. Để bảo vệ quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con, pháp luật quy định, con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha mẹ của mình được quy định tại Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan. Giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con được quy định tại Luật hôn nhân và gia đình, Luật nuôi con nuôi, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan. Mọi thỏa thuận của cha mẹ, con liên quan đến quan hệ nhân thân, tài sản không được làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
1. Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con
1.1. Quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con
a) Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ
- Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.
- Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
- Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.
- Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Khoản 4 Điều 18 Luật bình đẳng giới quy định: “Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển”.
- Cha nuôi, mẹ nuôi có quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi được xác lập theo quy định của Luật nuôi con nuôi. Trong trường hợp chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quyết định của Tòa án thì quyền, nghĩa vụ của cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Cha dượng, mẹ kế có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng của bên kia cùng sống chung với mình theo quy định tại các điều 69, 71 và 72 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; phá tán tài sản của con; có lối sống đồi trụy; xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cha, mẹ, người giám hộ của con chưa thành niên; người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ, ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện cha, mẹ có hành vi phá tán tài sản của con, có lối sống đồi trụy, xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, có quyền đề nghị cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
Trong trường hợp cha hoặc mẹ bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên thì người kia thực hiện quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con và đại diện theo pháp luật cho con. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên được giao cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật hôn nhân và gia đình trong các trường hợp cha và mẹ đều bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên; một bên cha, mẹ không bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên nhưng không đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con; một bên cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên và chưa xác định được bên cha, mẹ còn lại của con chưa thành niên.
Cha, mẹ đã bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
- Để bảo đảm quyền lợi của con cái khi cha mẹ ly hôn, pháp luật quy định sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Trong trường hợp con dâu, con rể sống chung với cha mẹ chồng, cha mẹ vợ thì cha mẹ chồng, cha mẹ vợ có quyền, nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ con dâu, con rể theo quy định tại các điều 69, 70, 71 và 72 của Luật hôn nhân và gia đình.
b) Quyền và nghĩa vụ của con
- Con có quyền và nghĩa vụ được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật; được học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức.
- Con có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình.
- Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.
- Con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì có quyền sống chung với cha mẹ, được cha mẹ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc.
Con chưa thành niên tham gia công việc gia đình phù hợp với lứa tuổi và không trái với quy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
- Con đã thành niên có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, nơi cư trú, học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mình.
- Con riêng có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha dượng, mẹ kế cùng sống chung với mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Con dâu, con rể sống chung với cha mẹ chồng, cha mẹ vợ thì có các quyền, nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ cha mẹ chồng, cha mẹ vợ theo quy định tại các điều 69, 70, 71 và 72 của Luật hôn nhân và gia đình.
1.2. Quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa cha mẹ và con
a) Con có quyền có tài sản riêng
Theo quy định của pháp luật, các con còn ở chung với cha mẹ, dù đã thành niên hay chưa thành niên đều có quyền có tài sản riêng, được hưởng quyền về tài sản tương xứng với công sức đóng góp vào tài sản của gia đình. Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và thu nhập hợp pháp khác. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của con cũng là tài sản riêng của con.
- Việc quản lý tài sản riêng của con: Đối với tài sản riêng của con, nếu con đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý. Tài sản riêng của con dưới 15 tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự do cha mẹ quản lý. Cha mẹ có thể ủy quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của con. Tài sản riêng của con do cha mẹ hoặc người khác quản lý được giao lại cho con khi con từ đủ 15 tuổi trở lên hoặc khi con khôi phục năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp cha mẹ và con có thỏa thuận khác. Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp con đang được người khác giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự; người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp cha mẹ đang quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự mà con được giao cho người khác giám hộ thì tài sản riêng của con được giao lại cho người giám hộ quản lý theo quy định của Bộ luật dân sự.
- Việc định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự:
+ Trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
+ Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ.
+ Trong trường hợp con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì việc định đoạt tài sản riêng của con do người giám hộ thực hiện.
Bên cạnh quy định về quyền sở hữu tài sản riêng của con, Luật hôn nhân và gia đình còn quy định con từ đủ 15 tuổi trở lên sống chung với cha mẹ phải có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình; đóng góp vào việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình nếu có thu nhập.
Con đã thành niên khi sống cùng với cha mẹ, con có nghĩa vụ tham gia công việc gia đình, lao động, sản xuất, tạo thu nhập nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình; đóng góp thu nhập vào việc đáp ứng nhu cầu của gia đình phù hợp với khả năng của mình.
Con được hưởng quyền về tài sản tương xứng với công sức đóng góp vào tài sản của gia đình.
b) Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra
Nhằm góp phần tăng cường trách nhiệm của cha mẹ trong việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, quản lý con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, Điều 74 Luật hôn nhân và gia đình quy định cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định của Bộ luật dân sự. Cụ thể:
- Cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do con dưới mười lăm tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự gây ra. Nếu cha, mẹ không đủ tài sản để bồi thường mà người con gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản riêng của con để bồi thường phần còn thiếu. Nếu con gây thiệt hại trong thời gian nhà trường, bệnh viện,..., đang quản lý và nhà trường, bệnh viện có lỗi trong việc con gây thiệt hại thì cha, mẹ và nhà trường, bệnh viện phải liên đới bồi thường.
- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản riêng của họ. Cha, mẹ chỉ phải bồi thường phần còn thiếu mà thôi.
c) Quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con
Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.
Con đã thành niên không sống chung với cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
d) Quyền thừa kế tài sản giữa cha mẹ và con
- Về quyền thừa kế theo pháp luật thì cha mẹ và con thuộc hàng thừa kế thứ nhất khi một bên chết. Con đẻ và con nuôi đều có quyền được thừa kế tài sản khi cha mẹ chết. Cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi đều có quyền thừa kế tài sản khi con chết.
- Cha mẹ, con chưa thành viên, con đã thành viên mà không có khả năng lao động là những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Theo quy định tại Điều 669 Bộ luật dân sự, những người này vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật dân sự.
2. Xác định cha, mẹ, con
Theo quy định của pháp luật, con có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết; cha, mẹ có quyền nhận con, kể cả trong trường hợp con đã chết. Con đã thành niên nhận cha, không cần phải có sự đồng ý của mẹ; nhận mẹ, không cần phải có sự đồng ý của cha. Trong trường hợp người đang có vợ, chồng mà nhận con thì việc nhận con không cần phải có sự đồng ý của người kia.
2.1. Xác định cha, mẹ
Tại Điều88 Luật hôn nhân và gia đình quy định, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.
Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.
Đối với trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, pháp luật quy định như sau:
- Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra.
- Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra.
Trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, con sinh ra là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra.
2.2. Xác định con
Điều 91 Luật hôn nhân và gia đình quy định, người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình.
Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình.
2.3. Người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con
Pháp luật quy định những người sau có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con:
- Cha, mẹ, con đã thành niên không bị mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp không có tranh chấp.
- Cha, mẹ, con, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp có yêu cầu về việc xác định cha, mẹ, con mà người có yêu cầu chết. Trong trường hợp này, cha, mẹ, con, người giám hộ, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự; xác định con cho cha, mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự.
VI. Quan hệ giữa các thành viên khác của gia đình
Nhằm giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, Luật Hôn nhân và gia đình quy định các thành viên gia đình có quyền, nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, tôn trọng nhau. Trong trường hợp sống chung thì các thành viên gia đình có nghĩa vụ tham gia công việc gia đình, lao động tạo thu nhập; đóng góp công sức, tiền hoặc tài sản khác để duy trì đời sống chung của gia đình phù hợp với khả năng thực tế của mình. Khoản 5 Điều 18 Luật bình đẳng giới quy định: “Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình”.
1. Quyền, nghĩa vụ của ông bà nội, ông bà ngoại và cháu
- Ông bà nội, ông bà ngoại có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu; trường hợp cháu chưa thành niên, cháu đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có anh, chị, em nuôi dưỡng khi không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu.
- Cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại; trường hợp ông bà nội, ông bà ngoại không có con để nuôi dưỡng mình thì cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng.
- Ông, bà nội, ông, bà ngoại có thể làm người giám hộ cho cháu khi cháu cần được giám hộ mà cháu không còn cha, mẹ hoặc anh, chị, em hoặc tuy còn nhưng những người này không đủ điều kiện để làm người giám hộ. Các cháu nội, cháu ngoại cũng có thể làm người giám hộ cho ông, bà nếu ông, bà không có con hoặc anh, chị, em để giám hộ.
2. Quyền, nghĩa vụ của anh, chị, em
Anh, chị, em có quyền, nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.
- Anh, chị, em ruột có thể là người giám hộ của nhau.
- Anh, chị ruột của người chưa thành niên là người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên đó. Anh, chị của người chưa thành niên có thể thoả thuận cử một người trong số họ có đủ điều kiện làm người giám hộ cho người chưa thành niên. Nếu anh, chị không thoả thuận được thì người anh cả hoặc chị cả của người chưa thành niên có đủ điều kiện làm người giám hộ, nếu anh cả hoặc chị cả không đủ điều kiện làm người giám hộ thì người tiếp theo đã thành niên có đủ điều kiện phải là người giám hộ. Khi giám hộ cho em chưa thành niên, nếu cần quyết định các vấn đề liên quan đến nhân thân hoặc tài sản của em chưa thành niên thì anh, chị là người giám hộ phải bàn bạc, tham khảo ý kiến của những người thân thích. Nếu em đã từ đủ chín tuổi trở lên thì khi quyết định các vấn đề đó phải có sự tham khảo ý kiến của em.
Anh, chị, em ruột của người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình có thể là người giám hộ của người đó nếu người đó không có người giám hộ đương nhiên như vợ, chồng, cha, mẹ, con.
3. Quyền, nghĩa vụ của cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột
Cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột có quyền, nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp người cần được nuôi dưỡng không còn cha, mẹ, con, ông bà nội, ông bà ngoại, anh, chị, em hoặc còn nhưng những người này không có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng.
VII. Cấp dưỡng
1. Nghĩa vụ cấp dưỡng
Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Theo Điều 107 Luật hôn nhân và gia đình, nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Cụ thể:
- Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.
- Con đã thành niên không sống chung với cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
- Trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã thành niên không sống chung với em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; em đã thành niên không sống chung với anh, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh, chị không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
- Ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người cấp dưỡng theo quy định tại điểm c nêu trên.
Cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông bà nội, ông bà ngoại trong trường hợp ông bà không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đinh.
- Cô, dì, chú, cậu, bác ruột không sống chung với cháu ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Cháu đã thành niên không sống chung với cô, dì, chú, cậu, bác ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cô, dì, chú, cậu, bác ruột trong trường hợp người cần được cấp dưỡng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- Trường hợp khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình.
Pháp luật quy định, nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
2. Phương thức và mức cấp dưỡng
2.1. Phương thức cấp dưỡng
Để tạo điều kiện cho các bên dễ dàng thỏa thuận lựa chọn cách thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng sao cho phù hợp nhất với hoàn cảnh của bản thân, pháp luật quy định, việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.
Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
2.2. Mức cấp dưỡng
Thông thường, người có nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ muốn mình phải cấp dưỡng ở mức thấp, trong khi người được cấp dưỡng lại mong muốn mình được cấp dưỡng ở mức cao. Nhằm hướng dẫn các bên thỏa thuận mức cấp dưỡng công bằng, việc quy định nguyên tắc pháp lý giải quyết mâu thuẫn này là cần thiết. Theo đó, Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình quy đinh, mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng
Nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ nhân thân có tính tài sản và thuộc loại nghĩa vụ có điều kiện, nên nghĩa vụ này chỉ có thể chấm dứt khi có những điều kiện nhất định. Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
- Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình;
- Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi;
- Người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi dưỡng người được cấp dưỡng;
- Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết;
- Bên được cấp dưỡng sau khi ly hôn đã kết hôn;
- Trường hợp khác theo quy định của luật.
VIII. Bạo lực gia đình
1. Khái niệm bạo lực gia đình, các hành vi bạo lực gia đình
1.1. Khái niệm
Luật phòng, chống bạo lực gia đình định nghĩa bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình. Quy định này nhằm tạo cơ sở phân biệt với hành vi bạo lực khác cũng như để xác định trách nhiệm và xử lý vi phạm trong bạo lực gia đình.
Để xác định một hành vi là hành vi bạo lực gia đình, căn cứ vào 2 điều kiện:
- Một là yếu tố “lỗi cố ý”, tức là không phải bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trong gia đình cũng được coi là bạo lực gia đình;
- Hai là người bị tổn hại là thành viên gia đình, đó là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
1.2. Các hành vi bạo lực gia đình
Các hành vi bạo lực gia đình gồm có 4 nhóm chính:
- Nhóm 1: nhóm hành vi bạo lực về thể chất: bao gồm hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng.
- Nhóm 2: nhóm hành vi bạo lực về tinh thần: bao gồm các hành vi lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng; ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau; hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở; cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.
- Nhóm 3: nhóm hành vi bạo lực về kinh tế: bao gồm chiếm đoạt, hủy hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình; cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính.
- Nhóm 4: hành vi bạo lực về tình dục: là hành vi cưỡng ép quan hệ tình dục.
Cụ thể, theo Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình, các hình vi bạo lực gia đình bao gồm:
a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;
b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;
d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
đ) Cưỡng ép quan hệ tình dục;
e) Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;
g) Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;
h) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
2. Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình
2.1. Quyền của nạn nhân bạo lực gia đình
Nạn nhân bạo lực gia đình là người bị tổn hại về sức khỏe, tính mạng, bị xúc phạm về danh dự, nhân phẩm và các tổn hại khác do hành vi bạo lực gia đình gây ra. Vì vậy, việc quy định các quyền của nạn nhân bạo lực gia đình nhằm hỗ trợ và bảo vệ nạn nhân, giúp nạn nhân bạo lực gia đình nâng cao nhận thức, tự bảo vệ mình khi bị xâm hại bởi hành vi bạo lực gia đình. Các quyền của nạn nhân bạo lực gia đình bao gồm:
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình. Các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền ở đây được hiểu là cơ quan nơi nạn nhân bạo lực gia đình công tác, làm việc; các tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi nạn nhân bạo lực gia đình cư trú, sinh sống, Tòa án và người đứng đầu các tổ chức, cơ quan nói trên.
- Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc. Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình cũng quy định các biện pháp này bao gồm: phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình; cấp cứu nạn nhân bạo lực gia đình; các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc pháp luật về tố tụng hình sự đối với người có hành vi bạo lực gia đình; cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình (cấm người có hành vi bạo lực gia đình đến gần nạn nhân; sử dụng điện thoại hoặc các phương tiện thông tin khác để có hành vi bạo lực với nạn nhân).
- Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật. Việc được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý nhằm bảo đảm nạn nhân bị bạo lực gia đình được chữa trị, ổn định sức khỏe và tinh thần. Việc tư vấn về pháp luật giúp nạn nhân bạo lực gia đình nâng cao hiểu biết để tự bảo vệ quyền và lợi ích của mình.
- Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của Luật. Đây là biện pháp mang tính cách ly, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho nạn nhân bạo lực gia đình.
2.2. Nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình
Đồng thời với việc được những hưởng quyền nêu trên, nạn nhân bạo lực gia đình phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu.
3. Phòng ngừa bạo lực gia đình
Phòng ngừa bạo lực gia đình nhằm tránh những hậu quả, thiệt hại có thể xảy ra khi có hành vi bạo lực gia đình. Pháp luật quy định các biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình bao gồm:
- Thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình: mục đích của việc thực hiện biện pháp này là nhằm thay đổi nhận thức, hành vi về bạo lực gia đình, góp phần tiến tới xóa bỏ bạo lực gia đình và nâng cao nhận thức về truyền thống tốt đẹp của con người, gia đình Việt Nam.
- Hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình: Hòa giải mâu thuẫn giữa các thành viên gia đình là trách nhiệm của gia đình, người đứng đầu hoặc người có uy tín trong dòng họ, người có uy tín trong cộng đồng dân cư; của cơ quan, tổ chức nơi công tác hoặc sinh sống của các thành viên gia đình; tổ hòa giải ở cơ sở. Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong việc hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện cho các tổ chức hòa giải ở cơ sở thực hiện hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình.
- Tư vấn, góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư về phòng ngừa bạo lực gia đình:
+ Nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động tư vấn về gia đình ở cơ sở cho các thành viên trong cộng đồng dân cư, trong đó tập trung vào các đối tượng: người có hành vi bạo lực gia đình; nạn nhân bạo lực gia đình; người nghiện rượu, ma túy, đánh bạc; người chuẩn bị kết hôn.
+ Các nội dung tư vấn chủ yếu là cung cấp thông tin, kiến thức, pháp luật về hôn nhân, gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình; hướng dẫn kỹ năng ứng xử trong gia đình; kỹ năng ứng xử khi có mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình.
+ Việc góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư nhằm làm chuyển biến nhận thức của người có hành vi bạo lực gia đình để họ không tiếp tục có hành vi bạo lực gia đình. Tuy nhiên, biện pháp góp ý, phê bình chỉ áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên có hành vi bạo lực gia đình đã được tổ hòa giải ở cơ sở hòa giải mà tiếp tục vi phạm. Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp này là người đứng đầu cộng đồng dân cư (trưởng thôn, làng, bản, ấp, phum, sóc, tổ trưởng tổ dân phố) hoặc người đứng đầu đơn vị.
+ Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giúp đỡ, tạo điều kiện cho người đứng đầu cộng đồng dân cư tổ chức việc góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư đối với người có hành vi bạo lực gia đình.
4. Bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình
Việc bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình được thực hiện thông qua các biện pháp sau:
4.1. Phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình
Theo quy định của pháp luật, người phát hiện bạo lực gia đình phải kịp thời báo tin cho cơ quan công an nơi gần nhất hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư (Trưởng thôn, làng, bản, ấp, phum, sóc tổ trưởng tổ dân phố…) nơi xảy ra bạo lực.
Cơ quan công an, Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư khi phát hiện hoặc nhận được tin báo về bạo lực gia đình có trách nhiệm kịp thời xử lý hoặc kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xử lý; giữ bí mật về nhân thân và trong trường hợp cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ người phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình.
4.2. Các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ:
Các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ được áp dụng kịp thời để bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình, chấm dứt hành vi bạo lực gia đình, giảm thiểu hậu quả do hành vi bạo lực gia đình gây ra, bao gồm:
+ Buộc chấm dứt ngay hành vi bạo lực gia đình;
+ Cấp cứu nạn nhân bạo lực gia đình;
+ Các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc pháp luật về tố tụng hình sự đối với người có hành vi bạo lực gia đình;
+ Cấm người có hành vi bạo lực gia đình đến gần nạn nhân; sử dụng điện thoại hoặc các phương tiện thông tin khác để có hành vi bạo lực với nạn nhân (sau đây gọi là biện pháp cấm tiếp xúc).
Biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình là việc không cho phép người có hành vi bạo lực gia đình thực hiện các hành vi sau đây: Đến gần nạn nhân trong khoảng cách dưới 30 m; trừ trường hợp giữa người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân có sự ngăn cách như tường, hàng rào hoặc các vật ngăn cách khác, bảo đảm đủ an toàn cho nạn nhân; sử dụng điện thoại, fax, thư điện tử hoặc các phương tiện thông tin khác để thực hiện hành vi bạo lực với nạn nhân.
Cấm tiếp xúc không phải là biện pháp xử lý vi phạm hành chính và chỉ được áp dụng trong trường hợp gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại đến sức khỏe, tính mạng của nạn nhân nhằm bảo vệ nạn nhân, phòng ngừa hậu quả nghiêm trọng hơn nữa có thể xảy ra.
Thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp này là: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra bạo lực gia đình; Tòa án đang thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa nạn nhân bạo lực gia đình và người có hành vi bạo lực gia đình.
Về thời hạn áp dụng: tối đa 03 ngày đối với trường hợp do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã áp dụng, không quá 04 tháng đối với trường hợp do Tòa án áp dụng.
4.3. Chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cũng là một trong các biện pháp cần thiết để bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình. Theo đó, khi khám và điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, nạn nhân bạo lực gia đình được xác nhận việc khám và điều trị nếu có yêu cầu. Chi phí cho việc khám và điều trị đối với nạn nhân bạo lực gia đình do Quỹ bảo hiểm y tế chi trả đối với người có bảo hiểm y tế. Nhân viên y tế khi thực hiện nhiệm vụ của mình có trách nhiệm giữ bí mật thông tin về nạn nhân bạo lực gia đình; trường hợp phát hiện hành vi bạo lực gia đình có dấu hiệu tội phạm phải báo ngay cho người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để báo cho cơ quan công an nơi gần nhất.
4.4. Tư vấn cho nạn nhân bạo lực gia đình
Nạn nhân bạo lực gia đình được tư vấn về chăm sóc sức khỏe, ứng xử trong gia đình, pháp luật và tâm lý để giải quyết tình trạng bạo lực gia đình. Các cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thực hiện việc tư vấn phù hợp cho nạn nhân bạo lực gia đình.
4.5. Hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu cho nạn nhân bạo lực gia đình
Trong trường hợp trên nạn nhân bạo lực gia đình được cung cấp nơi tạm lánh, hỗ trợ một số nhu cầu thiết yếu bao gồm cung cấp đồ ăn, nước uống, cung cấp hoặc cho mượn quần áo, chăn màn và các đồ dùng thiết yếu khác. Ngoài ra, nạn nhân bạo lực gia đình còn được chăm sóc sức khỏe, chăm sóc y tế, tư vấn pháp luật, tư vấn tâm lý.
Uỷ ban nhân dân cấp xã chủ trì phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và các tổ chức thành viên, tổ chức xã hội khác tại địa phương và các cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình thực hiện hỗ trợ khẩn cấp các nhu cầu thiết yếu cho nạn nhân bạo lực gia đình trong trường hợp cần thiết.
5. Trách nhiệm của cá nhân, gia đình trong phòng, chống bạo lực gia đình
- Cá nhân có trách nhiệm chấp hành pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng chống ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội; ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình và thông báo cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.
- Gia đình có trách nhiệm giáo dục, nhắc nhở thành viên gia đình thực hiện pháp luật liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình, hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình, can ngăn người có hành vi bạo lực gia đình chấm dứt hành vi bạo lực, chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình, phối hợp với cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư trong phòng, chống bạo lực gia đình và thực hiện các biện pháp khác phòng, chống bạo lực gia đình.
6. Các biện pháp xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình
Người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình sẽ bị xử lý như sau:
- Người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính[8], xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
- Cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân có hành vi bạo lực gia đình nếu bị xử lý vi phạm hành chính thì bị thông báo cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người đó để giáo dục.
Áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người có hành vi bạo lực gia đình:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình thì người thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình đã được góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư mà trong thời hạn 6 tháng, kể từ ngày áp dụng biện pháp này vẫn có hành vi bạo lực gia đình nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng đối với người có hành vi bạo lực gia đình:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 43 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình thì người có hành vi bạo lực gia đình đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà tiếp tục thực hiện hành vi bạo lực gia đình nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; đối với người dưới 18 tuổi thì có thể bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.
Thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
B. TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT
I. KẾT HÔN
1. M sắp tròn 17 tuổi, hiện đang ở nhà phụ giúp bố mẹ làm vườn. Bố M ép M kết hôn với một người Đài Loan để có thể cải thiện kinh tế gia đình và muốn cuộc đời M đỡ vất vả. M không đồng ý, kiên quyết phản đối. Mẹ M thương con, cũng không đồng ý với việc làm của chồng . Tuy nhiên, bố M kiên quyết ép M phải kết hôn cho bằng được.
Bố M có được phép làm như vậy không?
Trả lời:
1. Điều kiện kết hôn
Theo Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì nam, nữ kết hôn phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, gồm:
- Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
- Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
- Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.
M chưa đủ 17 tuổi, như vậy, M chưa đủ tuổi để kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Đồng thời một trong những điều kiện kết hôn là việc kết hôn do nam, nữ tự nguyện quyết định.
2. Cấm vi phạm quyền kết hôn
Điểm b Khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn”
Như vậy, việc bố, mẹ ép M kết hôn là vi phạm pháp luật.
3. Xử lý vi phạm
Theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật.
Nếu bố M cố tình cưỡng ép M kết hôn với người Đài Loan thì có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 47 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (sau đây gọi tắt là Nghị định số 110/2013/NĐ-CP) quy định:
“1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn.
2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó”.
Điều 55 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình (sau đây gọi tắt là nghị định số 167/2013/NĐ-CP) quy định:
“Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
1. Cưỡng ép người khác kết hôn, ly hôn, tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác.
2. Cản trở người khác kết hôn, ly hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác”.
Người cưỡng ép kết hôn cũng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 181 Bộ luật hình sự năm 2015:
“Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm”.
2. H và Th kết hôn với nhau. Th có cửa hàng tại nhà. H làm nghề xây dựng có uy tín nên kinh tế gia đình rất khá giả. Họ có 2 con gái xinh, ngoan và học giỏi. Làm nghề xây dựng nên H thường xuyên phải xa nhà. Th rất tin tưởng và tự hào về chồng. Bất ngờ Th phát hiện ra: những ngày không về nhà H sống với một người con gái khác tên là L ở trên thị trấn. Mâu thuẫn giữa vợ chồng H và Th ngày càng gay gắt. Th đã đến gặp và yêu cầu L chấm dứt chung sống bất hợp pháp với H. L không chấp nhận mà còn tuyên bố: “tôi chẳng làm gì bất hợp pháp. Anh H yêu tôi đến đây sống với tôi thì tôi chấp nhận, tôi có tranh cướp với ai đâu”. Xin hỏi pháp luật quy định về vấn đề này như thế nào?
Trả lời:
1. Một vợ một chồng là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình.
Khoản 1 Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.”.
2. Cấm vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng
Khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.
Như vậy, hành vi của H và L đã vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.
3. Xử lý vi phạm
Khoản 3 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“3. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình”.
Nếu H và L không chấm dứt vi phạm pháp luật cả hai người có thể bị xử phạt hành chính.
Khoản 1 Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (sau đây gọi tắt là Nghị định số 67/2015/NĐ-CP) quy định:
“1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
đ) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;
e) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng”.
Nếu đã bị xử phạt hành chính mà H và L vẫn cố tình không chấm dứt chung sống, họ có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.
Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng - Điều 182 Bộ luật hình sự năm 2015:
“1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó”.
3. K yêu và quyết định sẽ kết hôn với H nhưng Bố của K không đồng ý vì cho rằng ông nội của K và cụ ngoại của H là anh em con chú con bác nên K không thể kết hôn với H.
Gia đình K phát sinh mâu thuẫn, mỗi người một ý kiến, người thì ủng hộ K, người lại bảo bố của K nói như vậy là đúng.
Xin hỏi: theo quy định của pháp luật, K và H có được kết hôn với nhau không? Nếu được kết hôn mà bố K vẫn cản trở thì xử lý thế nào?
Trả lời
Nếu K và H đều đã đủ tuổi kết hôn và đáp ứng đầy đủ các điều kiện khác theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì K và H được kết hôn với nhau. Quan hệ giữa gia đình K và H không thuộc điều cấm kết hôn theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
1. Điều kiện kết hôn
Theo Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì nam, nữ kết hôn phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, gồm:
- Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
- Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
- Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.
Khoản 12 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giải thích “Những người cùng dòng máu về trực hệ là cha, mẹ đối với con; ông, bà đối với cháu nội và cháu ngoại”;
Khoản 13 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giải thích “Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra: cha mẹ là đời thứ nhất; anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh chị em con chú con bác, con cô con cậu, con dì là đời thứ ba”
K và H không thuộc trường hợp Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cấm kết hôn. Như vậy, K và H có quyền kết hôn với nhau. Mọi hành vi cản trở việc kết hôn giữa K và H với lý do vì 2 người có quan hệ họ hàng là vi phạm pháp luật.
2. Cấm vi phạm quyền
Điểm b Khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn.
3. Xử lý vi phạm
Khoản 3 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình quy định:
“3. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình”.
Nếu bố của K cố tình cản trở hôn nhân của K và H thì ông có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 55 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định:
“Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
1. Cưỡng ép người khác kết hôn, ly hôn, tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác.
2. Cản trở người khác kết hôn, ly hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác”.
Người cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ cũng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 181 Bộ luật hình sự năm 2015:
“Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm”.
II. QUAN HỆ GIỮA VỢ VÀ CHỒNG
4. Gia đình chồng chị V theo đạo tin lành, sau khi kết hôn, chồng và gia đình chồng chị V ép chị phải theo đạo tin lành. Chị V không đồng ý và mâu thuẫn gia đình phát sinh. Xin hỏi pháp luật quy định vấn đề này như thế nào?
Trả lời:
Chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta luôn coi trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi công dân. Điều đó được thể hiện trong các Hiến pháp và được cụ thể hóa trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tại Điều 22 quy định: “Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau”. Như vậy, theo quy định này, chị V có quyền tự do quyết định theo hoặc không theo đạo tin lành. Việc chồng và gia đình chồng chị V ép chị V phải theo tôn giáo của họ là trái với quy định của pháp luật. Trong trường hợp này chị V có thể giải thích, thuyết phục với chồng và gia đình chồng để họ hiểu và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của mình. Nếu như chị V không tự thuyết phục được thì nên nhờ sự giúp đỡ của những người có uy tín trong cộng đồng, chính quyền, đoàn thể nơi chị V đang sinh sống để thuyết phục chồng và gia đình chồng chị V tôn trọng quyền tự do tôn giáo của chị V.
5. Chiếc xe máy thường để chở hàng phục vụ đời sống trong gia đình là tài sản chung của vợ chồng anh C nhưng chỉ ghi tên vợ anh C trong giấy đăng ký xe. Do vay nợ bạn, vợ anh C bàn với anh C bán chiếc xe máy đó để trả nợ nhưng anh C không đồng ý. Anh C nói, cô tự vay thì phải tự trả. Vợ anh C cho rằng chiếc xe máy đó đăng ký tên mình thì mình được quyền quyết định bán chiếc xe máy đó. Hai vợ chồng mâu thuẫn. Xin hỏi theo quy định của pháp luật thì tình huống này được xử lý như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 35 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:
a) Bất động sản;
b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.
Vì vậy, mặc dù chiếc xe máy này chỉ ghi tên vợ anh C trong giấy đăng ký xe nhưng nó là tài sản chung, là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình và việc quyết định bán chiếc xe máy phải có sự thỏa thuận đồng ý bằng văn bản của vợ chồng anh C. Vợ anh C có thể bán chiếc xe máy nhưng phải có sự đồng ý của anh C.
Trong trường hợp vợ anh C tự mình bán chiếc xe máy cho người thứ ba mà chưa được sự đồng ý, ủy quyền của anh C thì giao dịch đó vô hiệu.
6. Năm 2009, anh A và chị B kết hôn với nhau. Hai anh chị có một con chung. Anh chị rất hạnh phúc vì có công việc ổn định. Tuy nhiên anh A là người rất gia trưởng nên đi làm về anh không làm gì đỡ chị B cả. Anh chỉ ngồi đọc báo hoặc xem ti vi. Từ khi đi làm về, Chị B làm hết việc nhà, nấu cơm cho gia đình, tắm cho con, dọn dẹp nhà cửa. Chị B rất bực mình nhưng hễ nói, anh A lại gạt đi bảo: “Đó không phải là việc của anh, phụ nữ phải lo việc nội trợ con cái”. Cuối năm 2015, cơ quan chị B cho chị đi tu nghiệp ở nước ngoài 01 tháng để nâng cao trình độ nên chị B rất muốn đi. Chị về nói chuyện với anh A nhưng anh A không đồng ý vì không có ai chăm con và dọn dẹp nhà cửa. Chị B nài nỉ chồng và bảo đã nhờ được bà ngoại lên trông con cho một tháng nhưng anh A vẫn không đồng ý. Anh đã đến cơ quan chị B đề nghị Giám đốc của chị là không đồng ý cho chị đi.
Xin hỏi, hành vi của anh A có vi phạm pháp luật không ?
Trả lời
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan” (Điều 17) và “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” (khoản 1 Điều 19).
Điều 18 Luật bình đẳng giới quy định bình đẳng giới trong gia đình như sau:
“1. Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.
2. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình.
3. Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật.
4. Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển.
5. Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình”.
Điều đó có nghĩa là anh A và chị B đều bình đẳng với nhau trong mọi công việc kể cả trong gia đình và ngoài xã hội. Anh A có trách nhiệm và nghĩa vụ giúp đỡ chị B trong công việc của gia đình và chăm sóc con cái.
Ở nước ta hiện nay, tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại nên có những ông chồng coi việc nấu nướng, dọn dẹp nhà cửa, chăm sóc con cái là của người phụ nữ nên họ không chia sẻ công việc nhà với vợ. Mọi công việc cứ đổ dồn cho người vợ. Pháp luật về hôn nhân và gia đình hiện nay đã quy định rõ vợ chồng bình đẳng nhưng các ông chồng vẫn mang nặng tính gia trưởng, chưa thay đổi được tư tưởng cổ hủ này. Anh A cũng là một người như vậy, theo anh, vợ anh có nghĩa vụ chăm sóc con cái và công việc nhà.
Còn về việc học tập của chị B, anh A có hành động như vậy là trái với quy định tại Điều 23 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền, nghĩa vụ về học tập, làm việc, tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội “Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ tạo điều kiện, giúp đỡ nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Khoản 3 Điều 14 Luật bình đẳng giới quy định: “Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ”. Anh A có nghĩa vụ tạo điều kiện để vợ được đi học nâng cao trình độ, chứ không được ngăn cấm và gây áp lực cho chị B.
7. Trước khi kết hôn anh T có mua được 01 căn hộ tập thể. Sau khi kết hôn với chị N, để thuận lợi cho việc đi làm, chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ, hai vợ chồng anh chị về sống cùng bố mẹ chồng. Thấy căn hộ tập thể đóng cửa để không lãng phí, anh T cho gia đình người em họ thuê với giá 3 triệu đồng/tháng (số tiền này anh T để chị N chi tiêu cá nhân) vì anh chị đều có công ăn việc làm ổn định, thu nhập tương đối cao. Năm 2014, anh T trao đổi với chị N rằng sẽ bán căn hộ tập thể đó cho người em họ với giá 850 triệu đồng. Thấy chồng bán nhà với giá rẻ hơn nhiều so với giá thị trường, chị N không đồng ý. Vậy anh T có thể bán căn hộ tập thể mà không có sự đồng ý của vợ?
Trả lời:
Anh T có thể bán căn nhà tập thể khi không có sự đồng ý của vợ, vì căn nhà này là tài sản riêng được anh T tạo lập trước khi kết hôn và sau khi kết hôn, anh T cũng không có thỏa thuận nhập vào tài sản chung của vợ chồng. Tại khoản 1 Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn”.
Theo đó, anh T có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với căn nhà này. Tại khoản 4 Điều 44 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ”. Trong trường hợp này, do anh T và chị N có công ăn việc làm ổn định, thu nhập tương đối cao chứ không phải không có việc làm và việc cho thuê nhà chỉ để “chi tiêu cá nhân thêm” cho chị N chứ không phải là “nguồn sống duy nhất” của gia đình anh T - chị N, nên trong trường hợp này anh T có quyền bán nhà mà không bắt buộc phải có ý kiến thống nhất của chị N.
8. H và Đ là vợ chồng. Đ là giám đốc một công ty nên mọi việc trong nhà đều do H lo toan, từ chăm sóc con nhỏ, đến chăm sóc bố mẹ chồng luôn đau yếu. Đ nói H không đi làm nữa mà ở nhà lo việc gia đình cho Đ yên tâm công tác. Muốn chồng yên tâm công tác, H đã chấp nhận bỏ việc cơ quan ở nhà lo việc gia đình. Mẹ chồng H lại cho rằng H ăn bám chồng. Bà nói với mọi người: “Tài sản trong nhà này là của thằng Đ tất, chứ vợ nó thì có cái gì, ăn bám chẳng xong nữa là”. Kẻ nói đi người nói lại. Mâu thuẫn mẹ chồng nàng dâu âm thầm diễn ra, khiến Đ rất đau đầu.
Xin hỏi, trong trường hợp cụ thể nêu trên, theo quy định của pháp luật, chị Đ có quyền gì đối với tài sản ( cả tiền, và các loại tài sản khác) do chồng chị tạo lập được ?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng thì, vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.
Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định những tài sản sau đây là tài sản chung của vợ chồng:
- Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung;
- Những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung;
- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
9. Vợ chồng anh C, chị B có 150 triệu đồng gửi tiết kiệm, mang tên anh C. Vì muốn mở quán cà phê, anh C bàn với vợ rút khoản tiền tiết kiệm để đầu tư kinh doanh. Chị B không đồng ý, vì chị muốn để dành số tiền này cho các con ăn học. Anh C đã tự ý rút số tiền tiết kiệm đó vì cho rằng mình là chủ gia đình nên có toàn quyền quyết định những việc lớn trong gia đình. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng gay gắt, anh chị thường xuyên to tiếng với nhau. Xin hỏi pháp luật quy định như thế nào về quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung của vợ chồng?
Trả lời:
Điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan.
Khoản 1 Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.
Khoản 1 Điều 35 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.
Như vậy, vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình. Việc anh C tự ý dùng số tiền tiết kiệm chung của vợ chồng để đầu tư kinh doanh mà không được sự đồng ý của vợ là vi phạm quy định của Luật hôn nhân và gia đình về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng.
Nếu anh C không cho vợ tham gia định đoạt tài sản chung của gia đình vì cho rằng người chồng mới là trụ cột gia đình thì anh C còn bị xử phạt theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 55/2009/NĐ-CP. Điều 13 Nghị định số 55/2009/NĐ-CP quy định như sau:
“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhằm cản trở thành viên trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính;
b) Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy hiếp tinh thần nhằm không cho phép thành viên trong gia đình tham gia sử dụng tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình, thực hiện các hoạt động tạo thu nhập hoặc đáp ứng các nhu cầu khác của gia đình vì định kiến giới;
c) Không chăm sóc, giáo dục, tạo điều kiện như nhau giữa nam và nữ trong gia đình về học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển.
2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Không cho thành viên trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính.
b) Không cho nam hoặc nữ trong gia đình tham gia công tác xã hội vì định kiến giới;
c) Đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở thành viên trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính;
d) Áp đặt việc thực hiện lao động gia đình, sử dụng biện pháp tránh thai, triệt sản như là trách nhiệm của thành viên trong gia đình thuộc một giới nhất định.
3. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi dùng vũ lực nhằm cản trở thành viên trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi đối với hành vi quy định tại Điểm a khoản 1, Điểm b Khoản 1, Điểm c Khoản 2 Điều này;
b) Buộc chịu mọi chi phí khám bệnh, chữa bệnh hợp lý đối với hành vi quy định tại Điểm c Khoản 2, Khoản 3 Điều này;
c) Buộc khôi phục quyền lợi hợp pháp đã bị xâm hại đối với hành vi quy định tại Điểm c Khoản 1, Điểm a Khoản 2, Điểm b Khoản 2 Điều này”.
10. Chị B muốn thành lập công ty kinh doanh đồ nông sản sạch để lo cho cuộc sống của gia đình nhưng anh T - chồng chị B không đồng ý vì cho rằng chị B chưa lường trước hết những rủi ro trong kinh doanh. Chị B đòi chia một phần tài sản chung để chị mở công ty. Hai vợ chồng mâu thuẫn vì không thống nhất được với nhau. Xin hỏi, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có được chia tài sản chung không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ các trường hợp sau:
- Việc chia tài sản chung làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
- Việc chia tài sản chung nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng; Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản; Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức; Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước; Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Như vậy, trong trường hợp trên, trước hết chị B nên thuyết phục chồng đồng ý với nguyện vọng chính đáng của mình, nếu không thỏa thuận được với chồng về việc chia một phần tài sản chung, chị B có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
11. Là một chàng trai giỏi giang và có chí, ba năm sau khi ra trường H đã mua được đất, làm được nhà và đón mẹ lên ở cùng. Nửa năm sau đó H cưới V. Cuộc sống thật dễ chịu, mẹ H bắt đầu mong có cháu nội. Nhưng sau nhiều năm chạy chữa, các bác sỹ kết luận H không có khả năng có con. V rất thương chồng và xác định không có lý do gì khiến cô phản bội tình yêu giữa hai người. Mẹ H biết vậy càng thương quý và nể trọng con dâu. Thật bất ngờ H bị chết trong một tai nạn giao thông. Thương con dâu, vài năm sau khi H chết, mẹ H giục V đi bước nữa. V đã kết hôn với một người bạn cũ và hai vợ chồng vẫn ở cùng với mẹ H.
Hai cô em gái của H phản ứng quyết liệt vì V đưa chồng “mới” về sống trong ngôi nhà mà anh họ đã làm, nhưng họ đã không làm gì được vì mẹ H muốn thế.
Khi mẹ H chết, hai cô em H tìm mọi cách để đuổi vợ chồng V ra khỏi nhà. V đưa ra một bản di chúc hợp pháp mà mẹ H đã lập tại văn phòng công chứng, trong đó nói rõ bà để lại một nửa di sản của mình cho V, một nửa còn lại cho hai người con gái của bà. Hai em H không chấp nhận điều đó. Họ cho rằng V đã đi lấy chồng khác thì không có tư cách gì để được thừa kế di sản của H và của mẹ H, họ mới là người thừa kế hợp pháp của những người này. Mâu thuẫn giữa V và hai cô em chồng ngày càng gay gắt.
Xin hỏi theo quy định của pháp luật thì tình huống trên được giải quyết như thế nào?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 66 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau. Trong trường hợp này, V là người thừa kế thuộc hàng thứ nhất của H. Vì Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau:
“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.
Như vậy, khi H chết, chỉ có V và mẹ H là người được thừa kế di sản của H, mỗi người được một phần hai di sản đó.
Em H nói V đã đi lấy chồng khác thì không được thừa kế di sản của H cũng không đúng. Vì khoản 3 Điều 655 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản.
Em H nói V không có tư cách để hưởng di sản của mẹ họ cũng không đúng. Điều 625 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật dân sự có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình. Theo đó, mẹ H hoàn toàn có quyền lập di chúc để lại tài sản cho bất kỳ ai mà bà muốn. Di chúc của mẹ H trong đó nói rõ là để lại một nửa tài sản của bà cho V đã được xác định là di chúc hợp pháp thì đương nhiên V được thừa kế di sản của bà.
12. H là một kỹ sư giỏi và cần mẫn. Hai năm sau khi ra trường H mua được một căn hộ 24 m2 và cưới D. Khi anh chị có con chung, không may anh H bị chết trong một tai nạn giao thông. Di sản của H là căn hộ 24 m2. Sau khi H chết, bố mẹ H yêu cầu chia di sản thừa kế của H, trong khi mẹ con D không có chỗ ở nào khác và cũng chưa có điều kiện để tạo lập chỗ ở mới.
Căn hộ 24 m2 của H ở trên gác, vì vậy, nếu chia cho những người thừa kế của H thì phần của mẹ con D không thể ở nổi. Quan hệ giữa D và bố mẹ chồng ngày càng căng thẳng.
Trong trường hợp này, pháp luật có quy định gì để bảo vệ quyền lợi của mẹ con D?
Trả lời:
Trường hợp của D có thể sử dụng quy định hạn chế quyền yêu cầu chia di sản thừa kế của vợ, chồng khi một bên chết.
Khoản 3 Điều 66 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.
Theo hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán tại Điểm 2 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP thì việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình là trong trường hợp người chết có để lại di sản, nhưng nếu đem di sản này chia cho những người thừa kế được hưởng thì vợ hoặc chồng còn sống và gia đình gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống như: không có chỗ ở, mất nguồn liệu sản xuất duy nhất…
Theo đó có thể thấy, nếu chia căn hộ của H cho những người được thừa kế di sản thì không thể ở được, mẹ con D hiện nay không có chỗ ở nào khác, nên có thể áp dụng khoản 3 Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để bảo vệ quyền lợi của mẹ con D.
13. Năm 2003, anh H kết hôn với chị S. Có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã. Sau một thời gian dài chung sống, anh chị đã có 02 mặt con và tạo dựng được một cơ ngơi khang trang. Vào tháng 7 vừa qua, tình cờ anh H phát hiện quả tang chị S ngoại tình nên ngay sau đó anh đã đệ đơn xin ly hôn. Trong thời gian chờ tòa án giải quyết cho ly hôn, anh H chơi xổ số và trúng thưởng 70 triệu đồng. Khi hai vợ chồng thỏa thuận việc chia tài sản chung khi ly hôn, anh H cho rằng số tiền trúng thưởng này không được tính vào tài sản chung của vợ chồng anh chị khi ly hôn. Chị S không đồng ý, tranh chấp phát sinh giữa anh H và chị S. Theo quy định của pháp luật thì số tiền trúng thưởng này có thuộc tài sản chung của hai vợ chồng anh H, chị S không?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 13, 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì, thời kỳ hôn nhânlà khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân. Ly hônlà việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Do Tòa án mới thụ lý đơn yêu cầu xin lý hôn của anh H và đang trong giai đoạn xem xét, giải quyết mà chưa có quyết định cho phép anh H, chị S ly hôn nên quan hệ hôn nhân giữa anh chị vẫn tồn tại.
Mặt khác, theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, thì tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật hôn nhân và gia đình; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Cũng tại Điều 9 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ về việc quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và gia đình quy định thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân gồm:
- Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp, trừ khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng.
- Tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân sự đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước.
- Thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Căn cứ váo các quy định nêu trên thì số tiền anh H trúng thưởng xổ số cũng được tính vào khối tài sản chung của vợ chồng.
14. Anh M và chị D lấy nhau đã được gần 10 năm. Từ hai bàn tay trắng, song nhờ chịu khó làm ăn, nay vợ chồng anh đã có cuộc sống ổn định, hạnh phúc với hai cô con gái ngoan ngoãn, xinh xắn. Tuy nhiên, thời gian gần đây, anh M bị mất việc, phải đi làm phụ hồ, thu nhập thấp và không ổn định, khiến kinh tế gia đình trở nên khó khăn. Những lúc buồn chán, anh lại uống rượu và mỗi khi có rượu vào là anh M lại mắng chửi chị D. Anh chửi mà chị D im lặng thì anh cho là chị D xem thường mình nên lao vào đánh túi bụi, còn chị D mà nói thì anh cho là hỗn láo phải “dạy” cho cho bài học. Xin hỏi, hành vi của anh M sẽ bị pháp luật xử lý như thế nào? Chị D có thể đến cơ quan nào để được tư vấn và hỗ trợ khi bị chồng đánh?
Trả lời:
Để bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam, tại điểm h khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã cấm hành vi bạo lực gia đình.
Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình quy định về các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:
- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;
- Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
- Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;
- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
- Cưỡng ép quan hệ tình dục;
- Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;
- Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;
- Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
- Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
Các hành vi bạo lực trên cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng.
Nếu hành vi bạo lực của anh M chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng và chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm để xử lý hình sự thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính dưới hình thức phạt tiền và thực hiện các biện pháp ngăn chặn, khắc phục hậu quả theo quy định tại Điều 49, Điều 51 Nghị định số 67/2013/NĐ-CP.
Điều 49 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt đối với hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình như sau:
“1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.
2. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;
b) Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này”.
Điều 51 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình như sau:
“1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình.
2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Tiết lộ hoặc phát tán tư liệu, tài liệu thuộc bí mật đời tư của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
b) Sử dụng các phương tiện thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình;
c) Phổ biến, phát tán tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nạn nhân.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này;
b) Buộc thu hồi tư liệu, tài liệu, tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh đối với hành vi quy định tại Điểm a, c Khoản 2 Điều này”.
Trong trường hợp hành vi của anh M có tính chất nghiêm trọng, cấu thành tội phạm sẽ bị xử lý hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Tại Điều 5 Luật phòng, chống bạo lực gia đình quy định nạn nhân bạo lực gia đình có các quyền sau đây:
“a) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình;
b) Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật này;
c) Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật;
d) Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của Luật này;
đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật”
Các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ cho bạn trong trường hợp này được quy định cụ thể tại Điều 18 như sau:
“Điều 18. Phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình
1. Người phát hiện bạo lực gia đình phải kịp thời báo tin cho cơ quan công an nơi gần nhất hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi xảy ra bạo lực, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 23 và khoản 4 Điều 29 của Luật này.
2. Cơ quan công an, Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư khi phát hiện hoặc nhận được tin báo về bạo lực gia đình có trách nhiệm kịp thời xử lý hoặc kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xử lý; giữ bí mật về nhân thân và trong trường hợp cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ người phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình”
Theo đó, chị D có thể đến gặp cơ quan có thẩm quyền: công an nơi gần nhất hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi chị sinh sống hoặc nơi bạn bị chồng hành hung... để đề nghị được giúp đỡ, xử lý.
15. Sau nhiều lần bị chị T (vợ anh N) mắng nên D tỏ ra thù oán, tìm mọi cách làm hại chị T. Biết anh N hay ghen nên D thi thoảng lại rủ N đi uống rượu và bóng gió rằng chị T hình như có quan hệ thân mật với một người đàn ông trong thôn, nhiều lần N bắt gặp chị T đi chơi với anh này và xúi giục anh N về tra khảo, mắng nhiếc vợ. Tính hay ghen lại cả tin nên mỗi lần đi uống rượu với D về là N lại lục vấn, chửi mắng vợ không tiếc lời, thậm chí có khi còn đánh đập vợ. Vậy, hành vi của N và D có vi phạm pháp luật không?
Trả lời:
Với anh N, có hành vi chửi mắng, thậm chí đánh đập vợ chỉ vì cả tin nghe theo lời D. Hành vi của N vi phạm quy định tại Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình. Khoản 1 Điều này quy định một trong các hành vi bạo lực gia đình là hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng.
Với D, việc bày đặt điều xấu gán cho người khác (chị T) để phá hoại hạnh phúc gia đình người khác (gia đình anh N) là hành vi vô đạo đức, cần phải bị lên án. Hành vi của D đã kích động, xúi giục anh N thực hiện hành vi bạo lực gia đình. Đây là hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại Khoản 2 Điều 8 Luật phòng, chống bạo lực gia đình.
Theo đó, N sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 49 và Điều 51 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt đối với hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình như sau:
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.
2. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;
b) Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.
Điều 51 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình như sau:
1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình.
2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Tiết lộ hoặc phát tán tư liệu, tài liệu thuộc bí mật đời tư của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
b) Sử dụng các phương tiện thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình;
c) Phổ biến, phát tán tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nạn nhân.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này;
b) Buộc thu hồi tư liệu, tài liệu, tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh đối với hành vi quy định tại Điểm a, c Khoản 2 Điều này.
D sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 59 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt đối với hành vi cưỡng bức, kích động, xúi giục, giúp sức người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình, như sau:
“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi kích động, xúi giục, giúp sức người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình.
2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi cưỡng bức người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình.”
N và D thực hiện hành vi với lỗi cố ý. D thì cố tình xúi giục N thực hiện hành vi mắng chửi, gây áp lực tâm lý với vợ. N do bị D kích động nên đều nhận thức được việc làm sai trái của mình nhưng vẫn cố tình thực hiện thể hiện thái độ tiêu cực trong xử sự của N và D.
N và D thỏa mãn đầy đủ các điều kiện về độ tuổi, khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi, sức khỏe… do đó, hai người này có đầy đủ khả năng chịu trách nhiệm pháp lý đối với những hành vi của mình.
III. LY HÔN
16. Chồng có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Khi bị vợ phát hiện ra mối quan hệ này, chồng đã công khai mối quan hệ này và làm đơn ly hôn với vợ, mặc cho khi đó người vợ đang mang thai. Xin hỏi trong trường hợp đó, người chồng có quyền yêu cầu ly hôn không?
Trả lời:
Tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:
1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Như vậy, trong trường hợp này, người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn, vì người vợ đang có thai.
17. Tôi kết hôn cách đây 10 năm. Chúng tôi đã có 2 con, một trai, một gái. Chồng tôi công tác ở thành phố. Tôi ở nhà với cha mẹ chồng và các con. Cuộc sống ở nông thôn vất vả, nhưng tôi luôn nghĩ mình phải cố gắng lo tròn mọi việc để chồng tôi yên tâm công tác. Mấy năm gần đây cha mẹ chồng tôi ốm đau luôn. Chồng tôi phải thường xuyên đi về thuốc thang cho cha mẹ. Tôi hết lòng chăm sóc cha mẹ chồng. Nhưng các cụ già yếu không qua khỏi, nên lần lượt ra đi.
Nhưng từ khi cha mẹ chồng tôi mất, chồng tôi rất ít khi về nhà và gần đây thì về và đưa đơn ly hôn bảo tôi ký vào.
Tôi không muốn ly hôn, tôi không ký, vì tôi chẳng có lỗi gì với chồng, với gia đình nhà chồng. Chồng tôi gây căng thẳng buộc tôi ký vào đơn và nói nếu tôi không ký vào đơn yêu cầu ly hôn thì chồng tôi vẫn có thể ly hôn được.
Xin hỏi pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?
Trả lời:
Quyền ly hôn là một quyền nhân thân của cá nhân. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn.
Trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn (thuận tình ly hôn) và trường hợp một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn chỉ khác nhau về thủ tục giải quyết tại Toà án.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chồng bạn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn không cần có sự đồng ý của chồng bạn.
Theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Như vậy, trong trường hợp của bạn, chồng bạn làm đơn yêu cầu ly hôn bảo bạn ký, bạn không ký, chồng bạn vẫn có quyền gửi đơn yêu cầu cho Toà án giải quyết việc ly hôn.
Vì vậy, khi thấy chồng mình tỏ thái độ “kiên quyết” ly hôn, thì bạn phải chuẩn bị tinh thần và nhất thiết phải tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trước hết, bạn có thể nhờ tổ hòa giải ở thôn, tổ dân phố hòa giải vụ việc. Điều 52 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Trong trường hợp phải tham gia tố tụng tại Tòa án, nếu bạn cảm thấy khó khăn, lúng túng, không tự tin để tự mình tham gia tố tụng thì bạn có thể nhờ luật sư, luật gia hoặc những người am hiểu pháp luật khác giúp bạn.
18. Anh A và chị B kết hôn năm 2008. Trước khi kết hôn, anh A đã tích góp mua được một căn hộ chung cư với diện tích là 80 m2. Năm 2014, anh chị có nhiều mâu thuẫn và muốn ly hôn. Việc chia tài sản chị B dự tính như sau: Căn nhà là tài sản riêng của anh A nên vẫn thuộc quyền sở hữu của anh A, chị B sẽ dọn đi nơi khác. Chị B chỉ yêu cầu anh A thanh toán cho chị một phần chi phí do anh chị cùng bỏ ra để sửa chữa căn nhà và cho chị lưu trú tại căn hộ này thêm 03 tháng để tìm thuê nhà. Anh A không đồng ý với yêu cầu của chị B, đồng thời anh A bảo chị B phải dọn đi ngay lập tức.
Xin hỏi pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?
Trả lời:
Chị B chưa có chỗ ở sau khi ly hôn nên chị B được quyền lưu cư tại căn hộ thuộc sở hữu riêng của anh A. Điều 63 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn như sau: “Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”.
Bên cạnh đó, tại khoản 4 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:“… Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác”.
Theo đó, do chị B có công sức và tiền bạc bỏ ra để sửa chữa ngôi nhà của anh A trong thời kỳ hôn nhân nên khi ly hôn anh A có trách nhiệm thanh toán phần giá trị này cho chị B. Đồng thời, trong lúc chị B dang gặp khó khăn về chỗ ở thì anh A có nghĩa vụ bảo đảm quyền được quyền lưu cư của chị B theo quy quy định của pháp luật. A không được phép bắt chị B phải dọn đi ngay.
19. Vợ chồng tôi lấy nhau đã được 8 năm và xây dựng được ngôi nhà trên mảnh đất của bố mẹ chồng. Mấy năm nay, anh ta suốt ngày bắt tôi đưa tiền để đi uống rượu, chơi bài. Nếu tôi không đưa thì anh ta đánh đập tôi thậm tệ. Hiện nay tôi muốn ly hôn vì không thể ở chung nhà với anh ta được nữa. Mẹ chồng biết tôi muốn ly hôn đã bảo tôi không ở được thì đi chỗ khác vì đất này của bà (mảnh đất này trước đây bà bảo cho vợ chồng tôi để chúng tôi làm nhà, bà chỉ nói với mọi người trong nhà mà chưa làm thủ tục sang tên). Bà còn nói: “Nó (ý bảo chồng tôi) không ký thì cô không ly hôn được và cô không được mang theo đứa con nào đi hết”. Tôi có hai đứa con, một cháu năm nay 2,5 tuổi, một cháu được 7 tuổi.
Xin hỏi, theo quy định của pháp luật, nếu ly hôn thì tôi có được chia tài sản và nuôi con không?
Trả lời:
Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”.
Hơn nữa, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về việc ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Như vậy, bạn hoàn toàn có quyền làm đơn xin ly hôn khi hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được kể cả chồng bạn không đồng ý.
Còn về nhà đất vợ chồng bạn đang ở, do mảnh đất chưa sang tên cho vợ chồng bạn nên vợ chồng bạn không có quyền đối với mảnh đất đó. Tuy nhiên, ngôi nhà là tài sản do vợ chồng bạn tạo lập trong thời kỳ hôn nhân nên nó là tài sản chung của hai vợ chồng bạn. Vì Khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân”. Nếu ly hôn, tài sản của vợ chồng bạn sẽ được chia theo nguyên tắc quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Theo đó, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
Còn việc nuôi con, tại khoản 2, 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
“2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.
Như vậy, bạn có thể căn cứ vào các quy định của pháp luật để bảo vệ quyền lợi của mình.
20. Sau khi cưới nhau, vợ chồng anh A, chị B được bố mẹ hai bên gia đình hỗ trợ tiền để mua một căn nhà tại Hà Nội, trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ghi tên của cả hai vợ chồng. Đầu năm 2014, anh A đột ngột qua đời vì tai nạn giao thông. Chị B chuyển về quê sinh sống và có ý định bán căn nhà chung của hai vợ chồng. Khi biết chuyện, gia đình anh A đã yêu cầu chị B phải chia căn nhà đó theo pháp luật về thừa kế. Chị B không đồng ý. Hai bên xảy ra tranh chấp. Xin hỏi pháp luật quy định như thế nào về vấn đề chia di sản thừa kế?
Trả lời:
Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết như sau:
1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.
2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.
3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.
4. Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định tại các mục 1, 2 và 3 nêu trên, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.
Căn cứ vào quy định trên, khi có yêu cầu của gia đình anh A về chia di sản thừa kế thì căn nhà thuộc sở hữu chung của anh A và chị B sẽ được chia đôi. Phần tài sản của anh A sẽ được chia theo pháp luật về thừa kế với hàng thừa kế thứ nhất theo quy định của Bộ luật dân sự gồm: vợ, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của anh A.
IV. QUAN HỆ GIỮA CHA, MẸ, CON
21. Vợ chồng chị L buôn bán ngoài chợ, có hai con, một trai và một gái đang ở độ tuổi đi học phổ thông. Với suy nghĩ “con gái có học nhiều cũng không có lợi ích gì, lớn lên cũng sẽ đi lấy chồng” nên năm học này chồng chị L quyết định cho con gái nghỉ học để phụ giúp công việc gia đình. Chị L không muốn con gái sau này không có học rồi sẽ vất vả như mình nên chị kiên quyết không đồng ý.
Xin hỏi việc chồng chị L quyết định cho con gái nghỉ học để phụ giúp công việc gia đình như vậy có vi phạm pháp luật không?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 69 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cha mẹ có nghĩa vụ và quyền không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Theo quy định tại Điều 18 Luật bình đẳng giới năm 2006, con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển. Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình.
Điều 41 Luật bình đẳng giới quy định các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình gồm:
- Cản trở thành viên trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính.
- Không cho phép hoặc cản trở thành viên trong gia đình tham gia ý kiến vào việc sử dụng tài sản chung của gia đình, thực hiện các hoạt động tạo thu nhập hoặc đáp ứng các nhu cầu khác của gia đình vì định kiến giới.
- Đối xử bất bình đẳng với các thành viên trong gia đình vì lý do giới tính.
- Hạn chế việc đi học hoặc ép buộc thành viên trong gia đình bỏ học vì lý do giới tính.
- Áp đặt việc thực hiện lao động gia đình, thực hiện biện pháp tránh thai, triệt sản như là trách nhiệm của thành viên thuộc một giới nhất định.
Như vậy, theo quy định của pháp luật nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Con trai hay con gái đều cần được đối xử như nhau, cũng cần được học tập, lao động, giải trí theo đúng độ tuổi và sự phát triển của con. Cha mẹ cần phải đối xử công bằng với con cái, không nên “trọng nam, khinh nữ” để dẫn đến cách nhìn lệch lạc của các con về vai trò của mỗi giới, ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý và hình thành nhân cách của các con sau này.
Vì vậy, nếu chồng chị L kiên quyết bắt con gái nghỉ học để phụ giúp việc gia đình vì cho rằng con gái không cần học nhiều là vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật về bình đẳng giới. Hành vi này sẽ bị xử phạt theo quy định tại Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính về bình đẳng giới.
22. Vợ anh D chết trong một tai nạn giao thông để lại cho anh D đứa con gái mới 2 tuổi. N làm cùng cơ quan với anh D từ lâu rất quan tâm đến anh D, nay thấy hoàn cảnh vất vả của anh D thì luôn tìm mọi cách để giúp đỡ. Sau đó anh D và N kết hôn với nhau. Anh D mong muốn rằng mối quan hệ giữa N và con gái của anh sẽ gắn bó hơn (vì trước đó N tỏ ra rất quan tâm chăm sóc cháu bé). Tuy nhiên, mối quan hệ đó chỉ duy trì được một thời gian cho đến khi N sinh con trai. N hầu như không quan tâm chăm sóc, thậm chí còn hay mắng chửi, hắt hủi thậm tệ con gái của anh D vì cho rằng bé gái đó không phải con đẻ của mình nên N không có nghĩa vụ chăm sóc.
Xin hỏi pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?
Trả lời:
Mặc dù cháu bé không phải là con của N, nhưng khi N đã kết hôn với bố cháu bé, về sống chung trong một nhà với cháu bé, thì giữa N và cháu bé đã phát sinh mối quan hệ pháp lý giữa “mẹ kế và con riêng của chồng”.
Về mối quan hệ này, khoản 1 Điều 79 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định, cha dượng, mẹ kế có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng của bên kia cùng sống chung với mình theo quy định tại các điều 69, 71 và 72 của Luật hôn nhân và gia đình.
Điều đó có nghĩa là nếu con riêng của chồng N, cùng sống chung với N, thì N có nghĩa vụ và quyền đối với cháu đúng như đối với con đẻ của mình, cụ thể là:
- Có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.
- Cùng chồng chăm sóc, nuôi dưỡng con.
- Có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập, cùng chồng tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hoà thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con.
Như vậy, hành vi của N đối với con gái của anh D đã vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình.
23. Tôi đã lập gia đình và có một cô con gái 03 tuổi. Do mâu thuẫn vợ chồng và mâu thuẫn giữa tôi và gia đình nhà vợ nên vợ tôi đã đưa con gái về nhà mẹ đẻ. Khi tôi tới thăm con, gia đình nhà vợ đã không cho tôi gặp con và còn đuổi tôi về. Hôm trước, tôi đến trường học thăm cháu thì được biết cháu đã được chuyển đi một trường học khác mà tôi không biết. Gọi điện cho vợ tôi thì vợ tôi bảo từ nay sẽ không cho tôi gặp con, tôi không xứng đáng và không có quyền được chăm sóc con. Vậy xin hỏi theo quy định của pháp luật vợ tôi có được phép làm như vậy không?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 69 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cha mẹ có nghĩa vụ và quyền:
Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.
Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Khoản 1 Điều 71 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Khoản 1 Điều 72 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập.
Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòa thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường, cơ quan, tổ chức trong việc giáo dục con.
Theo các quy định trên, việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con... không chỉ là nghĩa vụ mà còn là quyền của cả hai vợ chồng anh, anh và vợ anh đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Do đó, hành vi của vợ và gia đình nhà vợ của anh khi ngăn cản anh thực hiện quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con là hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định số 167/2013/NĐ-CP.
Điều 53 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt đối với hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau như sau: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau.
Nếu vợ và gia đình nhà vợ của anh tiếp tục ngăn cản anh thực hiện các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con thì anh có quyền trình báo với cơ quan công an, chính quyền địa phương để có biện pháp giải quyết.
24. H - 19 tuổi đang là sinh viên năm thứ hai đại học sư phạm. Tuy nhiên, sau một thời gian theo học, H không thấy thích ngành nghề mình đã chọn. H quyết định thi lại đại học và chuyển sang học về báo chí. Bố H là giáo viên, dự tính sau khi H tốt nghiệp đại học sư phạm, bố H sẽ xin cho H dạy học ở quê, gần bố mẹ. Vì vậy, bố mẹ H kiên quyết phản đối. H nói với bố mẹ, học xong muốn ở lại thành phố lập nghiệp và báo chí là một ngành năng động, phù hợp với H và nhất quyết làm theo ý mình. Mẫu thuẫn giữa H và bố mẹ ngày càng gay gắt. Bố mẹ H cho rằng phận làm con, H phải nghe theo định hướng nghề nghiệp của cha mẹ. Xin hỏi theo quy định của pháp luật H có quyền tự lựa chọn nghề nghiệp của mình không?
Trả lời:
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 70 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, con có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình. Bên cạnh đó, con cũng có quyền được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật; được học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức.
Con đã thành niên có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, nơi cư trú, học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mình. Khi sống cùng với cha mẹ, con có nghĩa vụ tham gia công việc gia đình, lao động, sản xuất, tạo thu nhập nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình; đóng góp thu nhập vào việc đáp ứng nhu cầu của gia đình phù hợp với khả năng của mình.
H đã thành niên nên H có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp của mình phù hợp với niềm đam mê và khả năng của bản thân và quyền được cha mẹ tôn trọng quyết định đó. Cha mẹ H có thể phân tích, khuyên bảo để H cân nhắc lựa chọn nghề nghiệp, nhưng quyền quyết định cuối cùng chọn nghề nào là của H.
25. Do không tin tưởng vào con trai là anh T và con dâu nên bà Th muốn di chúc để lại mảnh đất của tổ tiên để lại cho cháu nội mình là cháu H. Năm 2012, bà lập di chúc (có công chứng tại văn phòng công chứng X) để lại mảnh đất trên cho cháu H - 5 tuổi. Năm 2014, bà Th chết. Hiện nay cháu H đang bị bệnh tim, cần tiền để chữa trị. Anh T muốn bán 1 phần của mảnh đất để lo viện phí nhưng các anh em họ hàng không đồng ý. Bác trưởng họ bảo bà Th cho cháu H chứ không cho anh T nên anh T không có quyền bán mảnh đất này.
Vậy, vợ chồng anh T có quyền bán một phần mảnh đất nói trên để lấy tiền chữa bệnh cho con không?
Trả lời:
Có thể thấy, quyền sử dụng đối với mảnh đất trên là tài sản riêng của cháu H vì được thừa kế riêng từ bà nội - bà Th.
Theo quy định tại Điều 73 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật. Cha hoặc mẹ có quyền tự mình thực hiện giao dịchnhằmđáp ứng nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Do cháu H chưa thành niên (cháu H mới 8 tuổi) nên bố mẹ cháu - vợ chồng anh T là người đại diện đương nhiên của cháu.
Tại khoản 1, khoản 2 Điều 77 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự như sau:
“1. Trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
2. Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ”.
Việc định đoạt mảnh đất thuộc quyền của cháu H và người đại diện của cháu mà ở đây là vợ chồng anh T, anh chị em họ hàng và bác trưởng họ của anh T không có quyền can thiệp hay ngăn cấm việc bán một phần thửa đất này. Đặc biệt là khi việc bán một phần mảnh đất để chữa bệnh cho cháu là hoàn toàn chính đáng, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 77 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Do đó, vợ chồng anh T hoàn toàn có quyền bán một phần mảnh đất để lấy tiền chữa bệnh cho cháu H.
26. Năm 2010, bố chồng tôi mất có để lại thừa kế cho con trai tôi số tiền 100 triệu đồng. Khi đó con trai tôi mới 12 tuổi, nên vợ chồng tôi quyết định gửi số tiền đó vào ngân hàng, đến khi cháu trưởng thành thì giao lại cho cháu. Sau khi thi trượt đại học năm 2015 vừa qua, cháu cùng một số bạn học có ý định mở cửa hàng kinh doanh. Cháu đã đề nghị vợ chồng tôi đưa lại toàn bộ số tiền mà ông nội cho để góp vốn. Nghe cháu trình bày về kế hoạch kinh doanh, vợ chồng tôi nhận định lĩnh vực kinh doanh này cần nguồn vốn lớn, tính rủi ro cao và với sự hạn chế về kiến thức cũng như các kỹ năng quản lý của con tôi và các bạn của cháu thì nguy cơ thua lỗ là điều không tránh khỏi, nên vợ chồng tôi không đồng ý giao lại số tiền trên cho cháu. Tuy nhiên, con tôi không hiểu, nên nhất quyết đòi chúng tôi trả số tiền đó.
Xin hỏi pháp luật quy định như thế nào về trường hợp quản lý, định đoạt tài sản của con chưa thành niên vì hiện nay, con trai tôi mới hơn 17 tuổi?
Trả lời:
Thứ nhất, về quyền có tài sản riêng của con
Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người con trong quan hệ hôn nhân gia đình, theo quy định tại Điều 75 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì con có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và thu nhập hợp pháp khác. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của con cũng là tài sản riêng của con
Con từ đủ mười lăm tuổi trở lên còn sống chung với cha mẹ có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình; nếu có thu nhập thì đóng góp vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình.
Thứ hai, về việc quản lý tài sản riêng của con
Điều 76 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rất rõ về vấn đề quản lý tài sản riêng của con, cụ thể:
- Con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý.
- Tài sản riêng của con dưới 15 tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự do cha mẹ quản lý. Cha mẹ có thể ủy quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của con. Tài sản riêng của con do cha mẹ hoặc người khác quản lý được giao lại cho con khi con từ đủ 15 tuổi trở lên hoặc khi con khôi phục năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp cha mẹ và con có thỏa thuận khác.
- Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp con đang được người khác giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự; người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
- Trong trường hợp cha mẹ đang quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự mà con được giao cho người khác giám hộ thì tài sản riêng của con được giao lại cho người giám hộ quản lý theo quy định của Bộ luật dân sự.
Thứ ba, về việc định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên
Điều 77 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể về việc định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự như sau:
- Trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
- Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ.
- Trong trường hợp con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì việc định đoạt tài sản riêng của con do người giám hộ thực hiện.
Như vậy, trong trường hợp này, hiện nay con của chị đã hơn 17 tuổi, cháu có quyền quản lý tài sản của mình. Tuy nhiên, do cháu chưa đủ 18 tuổi nên khi cháu cần tài sản đó để góp vốn kinh doanh thì bắt buộc phải có sự đồng ý bằng văn bản của bố mẹ tức là của hai vợ chồng chị. Vợ chồng chị cũng nên giải thích các quy định của pháp luật để cháu hiểu, đồng thời có thể tham gia góp ý, hỗ trợ để xây dựng kế hoạch kinh doanh khác phù hợp và khả thi hơn với lứa tuổi của cháu.
27. Hai bố con ông T từ nơi khác chuyển đến sống cạnh nhà tôi được khoảng gần 2 tháng. Ông T tối ngày nhậu nhẹt, say sỉn, còn cậu con trai tầm 10 tuổi thì sáng sớm đã đi bán vé số đến tối muộn mới về. Thi thoảng, tôi thấy cậu con trai lại bị bố đuổi đánh vì cháu không đưa đủ tiền cho bố đi mua rượu. Tôi rất thương cháu bé mà chưa biết phải làm gì để giúp cháu.
Xin hỏi, trường hợp này, theo quy định của pháp luật thì cần làm gì để bảo vệ cháu bé ?
Trả lời:
Điều 69 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ như sau:
1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.
2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.
4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Đối chiếu với quy định trên cho thấy trong trường hợp này, ông T đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Điều 49 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt đối với hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình như sau:
“1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.
2. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;
b) Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này”.
Đồng thời, ông T có thể bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên theo quy định tại Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:
a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
b) Phá tán tài sản của con;
c) Có lối sống đồi trụy;
d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
2. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật hôn nhân và gia đình ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.
Điều 86 Luật hôn nhân và gia đình quy định về người có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên như sau:
1. Cha, mẹ, người giám hộ của con chưa thành niên, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên:
a) Người thân thích;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ.
3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện cha, mẹ có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật hôn nhân và gia đình có quyền đề nghị cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
Đối chiếu với những quy định trên thì anh/chị có thể đề nghị Ủy ban nhân dân cấp cấp xã hoặc Hội liên hiệp phụ nữ của xã yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của ông T đối với con ông T.
28. Chị Qu và anh P yêu nhau từ thời sinh viên. Tình yêu của họ sâu nặng tưởng không gì có thể chia lìa nên họ đã kết hôn và đã có con với nhau. Vậy mà anh P đã phản bội chị Qu yêu người con gái khác. Chị Qu không thể bỏ qua chuyện đó nên quyết định ly hôn. Toà giao cho chị Qu trực tiếp nuôi con. Đã 4 năm trôi qua, chị Qu vẫn không nguôi hận. Anh P thương con nên thường xuyên đến thăm con nhưng chị Qu luôn tìm mọi cách ngăn cản, không cho anh P được gặp con.
Xin hỏi pháp luật quy định như thế nào về quyền, nghĩa vụ thăm nom con cái của cha mẹ sau khi ly hôn?
Trả lời:
Khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định, sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con, thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Vì vậy, trong trường hợp này, chị Qu không có quyền cấm anh P đến thăm nom con sau khi ly hôn.
Nếu chị Qu cố tình ngăn cấm không cho anh P đến thăm con, thì Qu đã vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt hành chính.
Điều 53 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòaán; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau.
V. QUAN HỆ GIỮA CÁC THÀNH VIÊN KHÁC TRONG GIA ĐÌNH
29. Chị X có con là Y đã lớn và đã đi lấy chồng. Năm 43 tuổi, chị X lại sinh thêm con là cháu N. Thật không may N được 5 tuổi thì vợ chồng chị X bị tai nạn giao thông và qua đời. Y đón em về nuôi. Tuy nhiên, hoàn cảnh kinh tế của vợ chồng Y cũng khó khăn, chồng Y cho rằng đúng ra trách nhiệm nuôi N là thuộc về ông bà nội hoặc ông bà ngoại nên có ý muốn gửi N sang cho ông bà nội nuôi. Xin hỏi pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 105 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, anh, chị, em có quyền, nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.
Còn về nghĩa vụ và quyền của ông bà nội, ông bà ngoại đối với cháu, thì khoản 1 Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định, ông bà nội, ông bà ngoại có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu; trường hợp cháu chưa thành niên, cháu đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có anh, chị em nuôi dưỡng trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu.
Như vậy, nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu của ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại chỉ đặt ra khi cháu không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con và không có anh, chị, em nuôi dưỡng.
Trong trường hợp này, việc Y chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục em là hoàn toàn đúng với bổn phận làm chị theo đạo lý và theo quy định của pháp luật.
VI. CẤP DƯỠNG
30. Nhà chị M có bốn anh em, người em út bị thiểu năng trí tuệ. Cha mẹ đều đã mất, anh trai của chị M nuôi cô em gái út. Thương anh trai và em gái, chị M luôn cố gắng tiết kiệm chi tiêu để giúp đỡ anh trai nuôi em. Tuy nhiên, gần đây, anh trai của chị M gọi điện muốn chị M gửi nhiều hơn mức tiền chị M vẫn gửi. Chồng chị M biết chuyện rất bực bội và bảo: “Tôi không cấm cô thực hiện nghĩa vụ, nhưng phải có chừng, có mức chứ, cô định khuân hết của cải nhà này về cho anh trai và em gái cô à?”. Chị M rất buồn, không biết nên giải quyết vấn đề này như thế nào?
Trả lời:
Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Như vậy, căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của mình và nhu cầu thiết yếu của em gái chị M, chị M có thể thỏa thuận lại với anh trai về mức cấp dưỡng. Đồng thời, khéo léo thuyết phục chồng để anh hiểu và thông cảm cho hoàn cảnh gia đình mình.
Trong đó, nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng được xác định căn cứ vào mức sinh hoạt trung bình tại địa phương nơi người được cấp dưỡng cư trú, bao gồm các chi phí thông thường cần thiết về ăn, ở, mặc, học, khám chữa bệnh và các cho phí thông thường cần thiết khác để bảo đảm cuộc sống của người được cấp dưỡng.
31. Ly hôn được hai năm thì H kết hôn với L. L cũng đã qua một lần ly hôn nên họ rất thông cảm với nhau. Chỉ có điều L chưa có con riêng còn H đã có 1 con gái đang ở cùng với mẹ và bố dượng. Kinh tế gia đình H và L khá giả. L không phải là người “bủn xỉn”, nhưng quan hệ vợ chồng luôn căng thẳng mỗi khi H gửi tiền cấp dưỡng nuôi con cho vợ cũ. L bảo anh có thể đưa con về đây nuôi nhưng nếu mẹ nó đã nuôi thì cứ để mẹ nó nuôi. Nhà mẹ nó thiếu gì mấy đồng bạc mà phải gửi tiền đi tiền lại.
Xin hỏi pháp luật quy định như thế nào về nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con sau khi vợ chồng ly hôn ?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định, sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
Vì vậy, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Đây là nghĩa vụ của cha mẹ, do đó, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Mức cấp dưỡng cho con do cha, mẹ thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
C. VĂN BẢN PHÁP LUẬT
I. LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VÀ CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH
1. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
2. Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
3. Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình.
II. LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH
1. Luật Bình đẳng giới năm 2007
2. Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 15/7/2009 của Chính phủ quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới
3. Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới
4. Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 04/6/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới
5. Thông tư số 17/2014/TT-BTP ngày 13/8/2014 của Bộ Tư pháp quy định về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
6. Thông tư số 07/2011/TT-BTP ngày 31/3/2011 của Bộ Tư pháp hướng dẫn bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức cán bộ và hoạt động trợ giúp pháp lý
III. LUẬT PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH VÀ CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH
1. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007
2. Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 04/02/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình
3. Thông tư số 24/2011/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về tiêu chuẩn, điều kiện khen thưởng cá nhân, tập thể tham gia phòng, chống bạo lực gia đình; đối tượng, điều kiện, cơ quan hoàn trả thiệt hại về giá trị tài sản cho người trực tiếp tham gia phòng, chống bạo lực gia đình
4. Thông tư số 02/2010/TT-BVHTTDL ngày 16/3/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết về thủ tục đăng ký hoạt động, giải thể cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình; tiêu chuẩn của nhân viên tư vấn; cấp thẻ nhân viên tư vấn, chứng nhận nghiệp vụ chăm sóc, tư vấn và tập huấn phòng, chống bạo lực gia đình
Chuyên đề 4
LĨNH VỰC PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI, XÂY DỰNG, BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
MỤC LỤC
Trang
|
Phần thứ nhất. Lĩnh vực pháp luật đất đai…………………..………..….
|
276
|
|
A. Kiến thức pháp luật ………………….………………………….…
|
276
|
|
I. Hành vi bị cấm trong lĩnh vực đất đai……………………………….
|
276
|
|
II. Quyền của người sử dụng đất…………………………………………
|
279
|
|
III. Nghĩa vụ của người sử dụng đất.………………………………….…
|
284
|
|
IV. Giải quyết tranh chấp đất đai……………………...………………
|
284
|
|
B. Tình huống pháp luật……………………………………………….
|
291
|
|
Phần thứ hai. Lĩnh vực pháp luật xây dựng…………….……..……..….
|
305
|
|
A. Kiến thức pháp luật ………………….………………………….…
|
305
|
|
I. Cấp phép xây dựng công trình…………………………………………
|
305
|
|
II. Chỉ giới đường đỏ………………………………………………….
|
308
|
|
III. Những hành vi bị nghiêm cấm……………………………………….
|
309
|
|
IV. Vấn đề bồi thường thiệt hại do việc xây dựng gây hậu quả bất lợi cho người khác……………………………………………………………..
|
310
|
|
V. Vấn đề đảm bảo vệ sinh môi trường trong thi công xây dựng công trình…
|
310
|
|
B. Tình huống pháp luật…………………………………………………
|
311
|
|
Phần thứ ba. Lĩnh vực pháp luật bảo vệ môi trường………………..….
|
318
|
|
A. Kiến thức pháp luật ………………….…………………………….…
|
318
|
|
I. Những hoạt động bảo vệ môi trường được khuyến khích……………..
|
318
|
|
II. Những hành vi bị nghiêm cấm………………………………………..
|
320
|
|
III. Một số quyền, nghĩa vụ cụ thể của tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư trong lĩnh vực môi trường………………………………………………..
|
321
|
|
IV. Xử lý vi phạm pháp luật môi trường………………………………...
|
329
|
|
V. Giải quyết tranh chấp môi trường…………………………………….
|
331
|
|
B. Tình huống pháp luật ……………………………………………..
|
337
|
|
|
|
Phần thứ nhất. Lĩnh vực pháp luật đất đai
A. KIẾN THỨC PHÁP LUẬT
I. HÀNH VI BỊ CẤM TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
Điều 12 Luật đất đai năm 2013 xác định các hành vi sau đây là những hành vi bị nghiêm cấm:
(1) Lấn, chiếm, hủy hoại đất đai.
Các hành vi trên được hiểu như sau:
- Lấn đất là việc người đang sử dụng đất tự chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất.
- Chiếm đất là việc sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc việc sử dụng đất do được Nhà nước giao, cho thuê nhưng hết thời hạn giao, cho thuê đất không được Nhà nước gia hạn sử dụng mà không trả lại đất hoặc sử dụng đất khi chưa thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai.[9]
- Hủy hoại đất là hành vi làm biến dạng địa hình, làm suy giảm chất lượng đất, gây ô nhiễm đất, làm mất hoặc giảm khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định.[10]
(2) Vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố.
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là những "công cụ" được Nhà nước sử dụng để bảo đảm việc sử dụng đất hợp lý, khoa học, đúng với tính chất của đất, điều kiện của từng vùng miền cũng như hướng tới việc thực hiện những chính sách kinh tế - xã hội trong một khoảng thời gian nhất định. Quy hoạch sử dụng đất được xây dựng 10 năm một lần, kế hoạch sử dụng đất được xây dựng 5 năm một lần, riêng kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được xây dựng hàng năm. Để Nhà nước có thể thực hiện được các mục tiêu trên thì người sử dụng đất cần sử dụng đất đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
(3) Không sử dụng, sử dụng đất không đúng mục đích.
Đất đai là một loại tư liệu sản xuất quan trọng. Nếu như người sử dụng đất có đất mà không sử dụng thì đó chính là hành vi trực tiếp gây lãng phí đất đai. Sử dụng đất không đúng mục đích là việc người sử dụng đất không sử dụng đúng theo mục đích đã đăng ký với Nhà nước. Việc sử dụng đất không đúng mục đích vừa gây khó khăn cho quản lý nhà nước, đồng thời cũng có thể là hành vi gián tiếp gây lãng phí đất đai. Ví dụ: trường hợp đất nông nghiệp được sử dụng để kinh doanh hay làm nhà ở, rõ ràng ở đây, đất vẫn cho thấy giá trị nhưng giá trị đó hoàn toàn không tương xứng với tính chất của đất. Đất được xác định là đất nông nghiệp sẽ mang những đặc tính nhất định, đặc biệt là độ màu mỡ, là loại đất quan trọng cần được bảo vệ nhưng người sử dụng đất lại sử dụng cho mục đích khác, gây tổn hại về diện tích đất nông nghiệp. Đây là hành vi pháp luật cấm. Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang mục đích khác mà không có sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể bị xử phạt theo quy định của pháp luật.
(4) Không thực hiện đúng quy định của pháp luật khi thực hiện quyền của người sử dụng đất.
Hành vi này được thể hiện cụ thể như tự ý chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi tắt là GCNQSDĐ), đất đang có tranh chấp, đất đang bị kê biên để bảo đảm thi hành án, đất đã hết thời hạn sử dụng nhưng không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền gia hạn; tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức phân lô, bán nền trong dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở…
(5) Nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức đối với hộ gia đình, cá nhân.
Với mục đích hạn chế tích tụ đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp - loại đất sản xuất đặc biệt quan trọng, pháp luật đất đai đặt ra quy định về hạn mức nhận chuyển quyền đối với quyền sử dụng đất nông nghiệp. Hạn mức nhận chuyển quyền cụ thể đối với từng loại đất được quy định tại Điều 44 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai (gọi tắt là Nghị định số 43/2014/NĐ-CP). Các hộ gia đình, cá nhân chỉ được chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp nằm trong hạn mức này. Hành vi tự ý nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức nhận chuyển quyền theo quy định của pháp luật có thể bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật; đồng thời buộc trả lại diện tích đất đã nhận chuyển quyền vượt hạn mức do thực hiện hành vi vi phạm trên.
(6) Sử dụng đất, thực hiện giao dịch về quyền sử dụng đất mà không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Đăng ký sử dụng đất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm cả đăng ký lần đầu và đăng ký biến động theo quy định tại Điều 95 Luật đất đai năm 2013 là hoạt động bắt buộc đối với người sử dụng đất, nhằm phục vụ cho công tác quản lý đất đai của Nhà nước. Người sử dụng đất không thực hiện đăng ký đất đai có thể bị áp dụng hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền.
(7) Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
Đất đai tại Việt Nam thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Nhà nước thực hiện việc trao quyền sử dụng đất cho các chủ thể khác trong xã hội sử dụng và các chủ thể sử dụng đất có nghĩa vụ phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước. Ví dụ: lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính, phí đo đạc, thuế sử dụng đất, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất… Để tạo thuận lợi cho người sử dụng đất, Nhà nước cho phép ghi nợ đối với một số nghĩa vụ tài chính như tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ. Tuy nhiên, ngoài các trường hợp được miễn, giảm thì người sử dụng đất có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
(8) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định về quản lý đất đai.
Các hành vi bị cấm không chỉ được quy định với người sử dụng đất mà còn được quy định đối với người quản lý trong lĩnh vực đất đai, bởi lẽ các sai phạm không chỉ xuất phát từ hoạt động sử dụng đất mà còn có thể xuất phát từ hoạt động quản lý. Nếu như các hình thức trách nhiệm chủ yếu được áp dụng đối với người sử dụng đất là cảnh cáo hoặc phạt tiền thì người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để là trái quy định về quản lý đất đai còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình.
(9) Không cung cấp hoặc cung cấp thông tin về đất đai không chính xác theo quy định của pháp luật.
Hành vi không cung cấp hoặc cung cấp thông tin về đất đai không chính xác có thể bị phạt tiền đến tối đa 3.000.000 đồng căn cứ theo tính chất của hành vi vi phạm. Ví dụ: Phạt tiền từ trên 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp thông tin đất đai không chính xác, không đầy đủ của người có trách nhiệm liên quan đến việc thanh tra, kiểm tra, thu thập chứng cứ để giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân; Phạt tiền từ trên 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc thanh tra, kiểm tra, thu thập chứng cứ để giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân.
(10) Cản trở, gây khó khăn đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Nhà nước bảo đảm quyền cho chủ thể sử dụng đất hợp pháp nhưng các quyền đó phải nằm trong giới hạn, bảo đảm không xâm phạm đến quyền của chủ thể sử dụng đất hợp pháp khác. Người sử dụng đất không được thực hiện những hành vi như đưa chất thải, chất độc hại, vật liệu xây dựng hoặc các vật khác lên thửa đất của người khác hoặc thửa đất của mình gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác, đào bới, xây tường, làm hàng rào gây cản trở hoặc gây thiệt hại cho việc sử dụng đất của người khác…
II. QUYỀN CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT
1. Quyền chung của người sử dụng đất
Các quyền chung của người sử dụng đất được quy định tại Điều 166 Luật đất đai 2013. Theo đó, người sử dụng đất có các quyền cơ bản sau:
(1) Quyền được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Đây là một trong những quyền rất quan trọng được người sử dụng đất đặc biệt quan tâm. Thông qua GCNQSDĐ, Nhà nước xác lập mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước - với tư cách là chủ sở hữu đất đai đối với các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân được Nhà nước giao đất cho sử dụng. Mặt khác, GCNQSDĐ còn có ý nghĩa xác định phạm vi, giới hạn quyền và nghĩa vụ mà mỗi người sử dụng đất được phép thực hiện (ranh giới sử dụng đất, thời hạn và mục đích sử dụng…).
Về mặt khái niệm, GCNQSDĐ là chứng thư Nhà nước cấp cho người sử dụng đất để họ được hưởng mọi quyền lợi hợp pháp về đất đai và được Nhà nước bảo hộ khi quyền của họ bị xâm hại. Đó cũng là điều kiện để họ được nhận bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và là cơ sở pháp lý chứng minh của họ khi cần Tòa án giải quyết tranh chấp về đất đai. Như vậy, GCNQSDĐ vừa chứa đựng nội dung pháp lý, lại vừa chứa đựng nội dung kinh tế.
Những chủ thể sử dụng đất đai hợp pháp sẽ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn xét và cấp GCNQSDĐ cho người sử dụng ổn định, được Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã, phường, thị trấn xác nhận. Đây là một quyền vô cùng quan trọng bởi lẽ GCNQSDĐ sẽ là cơ sở thiết yếu cho chủ thể quyền trong việc được hưởng những quyền và lợi ích khác.
(2) Quyền hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất.
Lao động và thụ hưởng thành quả từ chính lao động ấy là điều mang tính tự nhiên về mặt xã hội. Tuy nhiên, quy định cũng có ý nghĩa nhất định, nó thể hiện sự ghi nhận của pháp luật, thể chế hóa thành một quyền năng, từ đó, sẽ được bảo đảm thực hiện bằng pháp luật.
Thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất là những sản phẩm lao động hoặc đầu tư của người sử dụng, gồm:
+ Những tài sản gắn liền với đất như: nhà cửa, vật kiến trúc, cây trồng...
+ Khả năng sinh lợi, lợi thế được tạo nên trong quá trình sử dụng đất như cải tạo, khai phá, san lấp, tôn tạo...
+ Sản phẩm thu hoạch từ cây trồng, vật nuôi.
Người sử dụng đất hợp pháp được pháp luật bảo hộ quyền hưởng một cách tuyệt đối tất cả thành quả lao động và đầu tư trên đất được giao.
(3) Quyền được bảo vệ và nhận lợi ích từ hoạt động của Nhà nước, gồm:
+ Được hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp mang lại.
+ Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp.
+ Được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình.
+ Được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật.
+ Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.
2. Quyền thực hiện giao dịch dân sự đối với quyền sử dụng đất
2.1. Các giao dịch dân sự đối với đất đai
Theo quy định của Luật đất đai năm 2013, có 8 loại giao dịch dân sự sau đây được thực hiện đối với quyền sử dụng đất, bao gồm:
(1) Chuyển đổi: là việc các bên thỏa thuận chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho nhau.
(2) Chuyển nhượng: là việc các bên thỏa thuận, theo đó bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, còn bên nhận chuyển nhượng trả tiền cho bên chuyển nhượng.
(3) Cho thuê: là việc thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê chuyển giao đất cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, còn bên thuê phải sử dụng đất đúng mục đích, trả tiền thuê và trả lại đất khi hết thời hạn. Chủ thể có quyền cho thuê đất không phải là chủ thể sử dụng đất dưới hình thức được Nhà nước cho thuê đất.
(4) Cho thuê lại: đối với chủ thể sử dụng đất dưới hình thức Nhà nước cho thuê đất thì việc chủ thể đó cho chủ thể khác thuê quyền sử dụng đất được gọi là cho thuê lại.
(5) Thừa kế: là việc chuyển quyền sử dụng đất của người chết sang cho người thừa kế.
(6) Tặng cho: là việc các bên thỏa thuận, theo đó bên tặng cho giao quyền sử dụng đất cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên tặng cho đồng ý nhận.
(7) Thế chấp: là việc các bên thỏa thuận, theo đó bên sử dụng đất (bên thế chấp) dùng quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự với bên kia (bên nhận thế chấp). Bên thế chấp được tiếp tục sử dụng đất trong thời hạn thế chấp.
(8) Góp vốn: là việc các bên thỏa thuận, theo đó người sử dụng đất (bên góp vốn) góp phần vốn của mình bằng giá trị quyền sử dụng đất để hợp tác sản xuất, kinh doanh với chủ thể khác.
2.2. Chủ thể được phép thực hiện giao dịch dân sự đối với đất đai
Trong số các chủ thể sử dụng đất được quy định tại Điều 5 Luật đất đai năm 2013 thì chỉ có 4 nhóm chủ thể được phép thực hiện các giao dịch dân sự đối với đất đai, bao gồm:
(1) Tổ chức trong nước bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự.
Các quyền cụ thể của tổ chức trong nước được quy định tại Mục 2 Chương XI Luật đất đai năm 2013 từ Điều 173 đến Điều 178.
(2) Hộ gia đình, cá nhân trong nước
Các quyền cụ thể của hộ gia đình, cá nhân trong nước được quy định tại Điều 179 và Điều 180 Luật đất đai năm 2013.
(3) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về quốc tịch, nghĩa là bao gồm công dân mang quốc tịch Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài được hiểu là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.[11]
(4) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư.
Các quyền cụ thể của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được quy định từ Điều 183 đến Điều 187 Luật đất đai năm 2013.
* Ngoài 4 nhóm chủ thể trên, 3 nhóm chủ thể còn lại không được phép thực hiện 8 loại giao dịch dân sự nêu trên đối với quyền sử dụng đất, gồm có:
(1) Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ;
(2) Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo;
(3) Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ.
2.3. Điều kiện thực hiện giao dịch dân sự đối với đất đai
Chủ thể được phép thực hiện giao dịch dân sự đối với đất đai bao gồm hộ gia đình, cá nhân, tổ chức trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để có thể thực hiện quyền năng của mình cần đáp ứng các điều kiện sau đây[12]:
(1) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 Luật đất đai năm 2013;
(2) Đất không có tranh chấp;
(3) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
(4) Trong thời hạn sử dụng đất.
Ngoài các điều kiện trên, pháp luật đất đai còn đặt ra một số điều kiện riêng về:
- Điều kiện bán, mua tài sản gắn liền với đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm (Điều 189);
- Điều kiện chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp (Điều 190);
- Trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất (Điều 191);
- Trường hợp hộ gia đình, cá nhân chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất có điều kiện (Điều 192);
- Điều kiện nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp (Điều 193);
- Điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong thực hiện dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở; dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê (Điều 194).
Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.
2.4. Công chứng, chứng thực văn bản chuyển quyền
Các văn bản chuyển quyền bắt buộc phải công chứng tại các tổ chức hành nghề công chứng hoặc chứng thực tại UBND cấp xã, bao gồm: Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản.
Các văn bản chuyển quyền không bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực bao gồm: Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản. Các văn bản này có thể được công chứng hoặc chứng thực nếu các bên có yêu cầu.
Riêng văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật dân sự.
III. NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT
Các nghĩa vụ của người sử dụng đất được quy định tại Điều 170 Luật đất đai năm 2013. Nghĩa vụ của một chủ thể được xác định dựa trên việc hướng đến đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho chủ thể khác, bao gồm cả Nhà nước, xã hội và những người sử dụng đất khác. Với 07 khoản theo quy định của Điều 170, có thể phân chia một cách tương đối thành các nhóm nghĩa vụ sau:
Thứ nhất, để bảo đảm cho hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, người sử dụng đất có nghĩa vụ:
- Thực hiện kê khai đăng ký đất đai; làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện các biện pháp bảo vệ đất.
- Tuân theo các quy định của pháp luật về việc tìm thấy vật trong lòng đất.
- Giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi, khi hết thời hạn sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền gia hạn sử dụng.
Thứ hai, để bảo đảm quyền lợi cho các chủ thể khác, người sử dụng đất có nghĩa vụ:
- Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không,
- Bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Thứ ba là liên quan đến bảo vệ môi trường, người sử dụng đất có nghĩa vụ: Tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất có liên quan.
IV. GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
Từ lâu đời, ông cha ta đã có câu “Hôn nhân điền thổ, vạn cố chi thù”, ý muốn nói đến việc trong xã hội xưa nay có hai chuyện thường xảy ra tranh chấp, dễ dẫn đến thù oán nhất là hôn nhân và ruộng đất. Điều này cho thấy tính phổ biến và phức tạp của các tranh chấp đất đai đã tồn tại từ lâu và có thể xảy ra ở bất cứ đâu. Tính phức tạp, gay gắt của nó không chỉ dừng lại ở khía cạnh tranh chấp dân sự mà còn có thể dẫn đến các vụ án hình sự, thậm chí còn mang tính chính trị, gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội. Vì vậy, giải quyết tranh chấp đất đai là một nội dung rất quan trọng và không thể thiếu của pháp luật đất đai.
1. Khái niệm tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai là một hiện tượng xảy ra phổ biến trong xã hội. Đặc biệt, khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đất đai trở thành một loại hàng hóa đặc biệt có giá trị thì tranh chấp đất đai có xu hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng cũng như mức độ phức tạp. Tình trạng tranh chấp đất đai kéo dài với số lượng người dân khiếu kiện ngày càng đông là vấn đề rất đáng được quan tâm. Tranh chấp đất đai phát sinh nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội, như làm đình đốn sản xuất, tổn thương đến các mối quan hệ trong cộng đồng dân cư, ảnh hưởng đến phong tục đạo đức tốt đẹp của người Việt Nam, gây ra sự mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tranh chấp đất đai kéo dài nếu không được giải quyết dứt điểm sẽ dễ dẫn đến “điểm nóng”, bị kẻ xấu lợi dụng, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước.
Trong đời sống thực tế, các tranh chấp đất đai xảy ra ngày càng nhiều với sự phong phú và đa dạng về các loại hình tranh chấp và với tính chất ngày càng tinh vi và phức tạp hơn. Nhiều vụ tranh chấp xảy ra làm tốn nhiều thời gian, công sức, tiền của không chỉ của Nhà nước mà còn làm tốn kém ngay cả đối với các chủ thể tranh chấp và các chủ thể khác có liên quan.
Tranh chấp đất đai biểu hiện ở các dạng khác nhau (Tranh chấp đất đường đi, ngõ xóm, ranh giới đất ở, đất vườn, đất sản xuất thuộc quyền sử dụng của các hộ gia đình, các tranh chấp còn liên quan đến những vùng đất bãi ven sông, ven biển có khả năng khai thác các nguồn lợi thuỷ sản; tranh chấp về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất khi các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thực hiện các giao dịch chuyển quyền sử dụng đất cho nhau; tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất; tranh chấp liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất...). Mục đích và tính chất của mỗi tranh chấp cũng không giống nhau song chúng đều bắt nguồn từ những bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ đất đai. Và mâu thuẫn, bất đồng của các chủ thể đó của các bên hoặc nhiều bên không thể tự mình điều hòa được thì tranh chấp nảy sinh và phải cần đến sự can thiệp của Nhà nước, cộng đồng và xã hội. Theo đó, tranh chấp đất đai được hiểu là:
Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai[13].
Tranh chấp đất đai có các đặc điểm sau:
(1) Không tranh chấp về quyền sở hữu: Đối tượng của tranh chấp không là quyền sở hữu đất và các chủ thể tham gia tranh chấp không phải là các chủ thể có quyền sở hữu đối với đất, bởi lẽ đất đai tại Việt Nam thuộc về sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, chứ không thuộc về từng cá nhân riêng lẻ. Các chủ thể sử dụng đất không nắm giữ quyền sở hữu đất mà chỉ nắm giữ quyền sử dụng đất.
(2) Các tranh chấp đất đai ngày càng gay gắt, phức tạp trong bối cảnh kinh tế thị trường. Khác với thời kỳ bao cấp trước đây, đất không có giá, thậm chí người thân, anh em, bạn bè có thể thoải mái cho nhau đất không cần tính toán, thì nay, trong nền kinh tế thị trường, khi đất đai đã được xác định giá, người dân ý thức được giá trị của đất, lại là giá trị rất lớn thì mỗi diện tích đất, thậm chí rất nhỏ cũng có thể làm phát sinh tranh chấp lớn.
(3) Tranh chấp đất đai có khả năng lôi kéo nhiều người, gây bất ổn chính trị, mất ổn định xã hội. Đặc biệt là tranh chấp đất đai giữa các dòng họ, tài sản chung khác... thuộc quyền sử dụng của nhiều chủ thể khiến cho việc giải quyết tranh chấp rất khó khăn, dẫn đến việc các bên “tự giải quyết” tranh chấp một cách manh động theo kiểu “xã hội đen”...
Khi các quyền và lợi ích được coi là hợp pháp đó bị thương tổn, bị xâm hại thì tâm lý nói chung của người sử dụng đất là muốn được phục hồi quyền lợi, các lợi ích được xem xét bảo vệ và được tôn trọng. Vì vậy, những mong muốn chính đáng đó phải được bảo vệ từ phía Nhà nước và cộng đồng bằng nhiều cách thức và biện pháp khác nhau, nếu không được bảo vệ tất yếu dẫn tới những xung đột từ quy mô nhỏ tới quy mô lớn, từ các hiện tượng nhỏ lẻ, cá biệt thành những hiện tượng bất thường gây xáo trộn cuộc sống. Do vậy, không có bất cứ Nhà nước nào lại không can thiệp bằng nhiều biện pháp khác nhau để bình ổn những xáo trộn đó. Thực tế ở một số địa phương có tình trạng khiếu kiện đông người gây áp lực đối với chính quyền, bao vây các doanh nghiệp vì không hài lòng với việc được bồi thường thiệt hại về đất, kích động người dân khiếu kiện gây căng thẳng trong đời sống đã cho thấy, việc giải quyết tranh chấp khiếu kiện nói chung và giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng trở thành mối quan tâm chung của xã hội. Các biện pháp giải quyết không nhất thiết cứ phải khiếu kiện đến các cơ quan nhà nước mà có thể thông qua nhiều con đường khác nhau từ cộng đồng, từ sự chia sẻ của xã hội và vai trò trung gian hoà giải ở cơ sở, hòa giải của các tổ chức đoàn thể. Tuy nhiên, nếu những biện pháp giáo dục thuyết phục từ cộng đồng vẫn không thể đạt được sự nhất trí của các bên đương sự thì đương nhiên bằng con đường tư pháp, bằng con đường hành chính, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải có trách nhiệm bình ổn các quan hệ xã hội thông qua việc áp dụng pháp luật để giải quyết mọi quyền lợi chính đáng của các bên đương sự. Qua việc giải quyết đó, trật tự xã hội được vãn hồi, quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất được khôi phục, mang lại niềm tin cho người bị xâm hại, đồng thời khuyến cáo người vi phạm pháp luật về các trách nhiệm pháp lý có thể được áp dụng để xử lý đối với hành vi vi phạm.
Từ các vấn đề nêu trên có thể khái quát khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai như sau:
Giải quyết tranh chấp đất đai là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn giữa các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân để tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ đất đai.
Giải quyết tranh chấp đất đai có các đặc điểm sau:
(1) Giải quyết tranh chấp đất đai là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Để giải quyết một tranh chấp, các chủ thể có thể sử dụng nhiều biện pháp như tự thương lượng, thỏa thuận với nhau. Pháp luật đất đai không quan tâm cách thức họ thỏa thuận thế nào, thương lượng ra sao mà chỉ đưa ra các quy định điều chỉnh hoạt động giải quyết tranh chấp khi có sự tham gia của cơ quan nhà nước vào việc giải quyết đó mà thôi. Điều này nhằm thể hiện sự tôn trọng của Nhà nước với tự do ý chí, tự do định đoạt của các chủ thể, và Nhà nước sẽ cung cấp một công cụ giải quyết tranh chấp cho họ nếu như họ không có được sự thống nhất. Một khi đã có sự tham gia của cơ quan nhà nước thì các quy phạm pháp luật về giải quyết tranh chấp là cần thiết, bởi lẽ có những quy phạm pháp luật này thì người dân cũng như chính cơ quan nhà nước mới biết chủ thể nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và giải quyết theo trình tự, thủ tục gì.
(2) Đối tượng của hoạt động giải quyết tranh chấp là tranh chấp đất đai, trong đó các đương sự yêu cầu cơ quan nhà nước xác định rõ những quyền và nghĩa vụ của các bên đối với khu đất đang bị tranh chấp.
(3) Hệ quả pháp lý của việc giải quyết tranh chấp là quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ đất đai sẽ được làm rõ bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật.
(4) Đề cao hòa giải, huy động đoàn thể địa phương tham gia.
(5) Liên quan đến nhiều lĩnh vực khác, như: nhà, xây dựng...
(6) Cần phải hiểu phong tục, tập quán địa phương để có cách giải quyết thỏa đáng. VD: ở một số dân tộc, khi con gái đã đi lấy chồng thì không được hưởng thừa kế đất đai của bố mẹ.
Việc giải quyết tranh chấp đất đai hướng tới các mục đích:
(1) Giải quyết bất đồng, bảo vệ quyền cho các chủ thể có quyền sử dụng đất hợp pháp.
(2) Duy trì ổn định trật tự xã hội.
(3) Thể hiện vai trò quản lý của nhà nước về đất đai.
2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Các chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai bao gồm: Tòa án nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường.
Trong trường hợp giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính, Quốc hội và Chính phủ cũng là các chủ thể có quyền quyết định.
a) Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai trong các trường hợp:
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ hợp lệ quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 100 Luật đất đai năm 2013.
- Các đương sự không có các loại giấy tờ trên nhưng lựa chọn khởi kiện tại Tòa án mà không giải quyết tại UBND cấp có thẩm quyền.
- Tranh chấp về tài sản gắn liền với đất.
b) Ủy ban nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai trong trường hợp: các đương sự tranh chấp về đất mà không có 1 trong các loại giấy tờ nêu trên để chứng minh quyền của mình đối với đất.
- Thẩm quyền giải quyết tranh chấp cụ thể như sau:
|
Đương sự
|
Thẩm quyền
|
|
Giải quyết lần 1
|
Giải quyết lần 2
|
|
Hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau.
|
Chủ tịch UBND cấp huyện
|
- Chủ tịch UBND cấp tỉnh
|
|
Một bên là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
|
Chủ tịch UBND cấp tỉnh
|
- Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường.
|
Nếu các đương sự không đồng ý với kết quả giải quyết lần 1 thì có thể khiếu nại để giải quyết lần 2 hoặc khởi kiện tại Tòa án theo trình tự tố tụng hành chính.
Trong trường hợp đặc biệt, khi kết quả giải quyết tranh chấp liên quan đến địa giới của đơn vị hành chính thì Quốc hội hoặc Chính phủ sẽ quyết định[14]:
Quốc hội: quyết định trong trường hợp tranh chấp liên quan đến địa giới của đơn vị hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mà UBND của các đơn vị đó không đạt được sự nhất trí hoặc việc giải quyết làm thay đổi địa giới hành chính.
Chính phủ: quyết định trong trường hợp tranh chấp liên quan đến địa giới của đơn vị hành chính huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn mà UBND của các đơn vị đó không đạt được sự nhất trí hoặc việc giải quyết làm thay đổi địa giới hành chính.
3. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai
Khi có tranh chấp đất đai phát sinh, Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.
3.1. Hòa giải tại UBND cấp xã[15]
Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
Thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã:
- Trong 45 ngày từ ngày nhận đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, UBND xã phải lập Hội đồng hòa giải (gồm: đại diện UBND, Mặt trận Tổ quốc và các thành viên khác của mặt trận) để tổ chức thực hiện hòa giải.
- Kết quả hòa giải phải được thể hiện bằng biên bản có chữ kí xác nhận của Hội đồng hòa giải và các bên đương sự.
- Hệ thống Tòa án nhân dân và UBND từ cấp huyện trở lên không có quyền thụ lý, nhận đơn để giải quyết tranh chấp nếu tranh chấp đó chưa được tổ chức hòa giải tại UBND cấp xã.
Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì UBND cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình UBND cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Nếu tranh chấp đã được hòa giải tại UBND cấp xã nhưng không thành thì căn cứ theo quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, các đương sự có thể yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND hoặc tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền.
3.2. Giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân
Để khởi kiện vụ án tranh chấp đất đai tại Tòa án và được Tòa án thụ lý giải quyết thì các đương sự phải thỏa mãn 2 điều kiện.
+ Thứ nhất: đương sự phải thuộc trường hợp mà Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai.
+ Thứ hai: vụ việc đã qua hòa giải tại UBND cấp xã trong những trường hợp pháp luật quy định.
Việc giải quyết tranh chấp đất đai tại Toà án được thực hiện theo quy định chung của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khởi kiện vụ án tại Toà án có thẩm quyền.
Đất đai là một loại bất động sản nên Toà án có thẩm quyền giải quyết là Toà án nơi có bất động sản.
Người khởi kiện vụ án gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Toà án có thẩm quyền, thực hiện việc tạm ứng án phí và hoàn chỉnh hồ sơ, đơn khởi kiện theo yêu cầu của Tòa án. Sau đó, Tòa án sẽ thụ lý giải quyết. Toà án nhân dân tiến hành hoà giải để các đương sự tiến hành thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Đây là giai đoạn bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự và việc hoà giải này cũng khác với việc hoà giải trước khi khởi kiện. Hoà giải trong giai đoạn này do Toà án nhân dân chủ trì và tiến hành. Nếu hòa giải thành thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành, hết thời hạn 07 ngày mà các đương sự không thay đổi ý kiến thì tranh chấp chính thức kết thúc (đây là hòa giải trong quy trình tố tụng, khác với hòa giải ở UBND cấp xã). Nếu hoà giải không thành thì Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ngay trong quá trình xét xử, các đương sự vẫn có thể thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Nếu không đồng ý với bản án, các bên đương sự có thể kháng cáo theo trình tự phúc thẩm. Việc giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án về tranh chấp đất đai được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
3.3. Giải quyết tranh chấp tại UBND cấp huyện trở lên
Để yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai tại UBND cấp huyện trở lên cần đáp ứng các điều kiện sau:
+ Thứ nhất: các đương sự không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định và lựa chọn giải quyết tranh chấp tại UBND.
+ Thứ hai, tranh chấp đã qua hòa giải tại UBND cấp xã.
Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.
B. TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT
1. Trước tình hình người dân tụ tập đông đúc ở khu vực cổng chùa vào các ngày rằm, mùng một gây tắc nghẽn giao thông, chủ tịch UBND xã K, huyện M đã đề nghị gia đình ông Q ở sát chùa chuyển đổi quyền sử dụng 200 m² đất đang ở sang khu đất mới giáp mặt đường (diện tích đất này thuộc quỹ đất công ích 5% của phường). Gia đình ông Q cũng đồng ý chuyển đổi. Sau đó, chủ tịch UBND phường K đã lấy đất của nhà ông Q giao cho chùa để mở rộng sân, tạo điều kiện cho bà con đến cúng bái, khắc phục tình trạng tắc nghẽn giao thông.
a) Hãy bình luận về việc làm của chủ tịch UBND phường K.
b) Nếu chủ tịch UBND phường K muốn sân chùa được mở rộng, khắc phục tình trạng tắc nghẽn cản trở giao thông nêu trên thì có thể thực hiện biện pháp nào?
Trả lời:
a) Việc làm của chủ tịch UBND phường K đã có những sai phạm sau:
- Không được thực hiện việc đổi đất cho ông Q, vì giao dịch "chuyển đổi" chỉ được thực hiện giữa các hộ gia đình, cá nhân đối với đất nông nghiệp nằm trong cùng một xã, phường, thị trấn theo Điều 179 Luật đất đai năm 2013.
- Không có thẩm quyền giao đất cho chùa theo Điều 59 Luật đất đai năm 2013.
b) Muốn giao thêm đất cho chùa để mở rộng sân thì thẩm quyền thuộc về UBND cấp tỉnh.
- Nếu cạnh chùa có phần đất chưa sử dụng thì UBND tỉnh có thể tiến hành giao phần đất này nếu như không trái với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hiện tại.
- Nếu đất không có sẵn mà cần lấy từ một hộ gia đình/ cá nhân thì UBND huyện phải tiến hành thu hồi đất sau khi đáp ứng được các căn cứ quy định tại Điều 62 Luật đất đai năm 2013 về thu hồi đất vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
Do UBND cấp xã không có thẩm quyền nên chủ tịch UBND phường K có thể làm đề xuất lên UBND cấp trên, trình bày rõ tình hình tại địa phương để UBND cấp huyện/ tỉnh có thẩm quyền tiến hành các hoạt động điều chỉnh, phân bổ đất đai hợp lý.
2. Anh A đang có quyền sử dụng 4 thửa đất trồng lúa với tổng diện tích là 2000 m2. Vì điều kiện khó khăn về kinh tế, anh A muốn đổi lấy 100 m2 đất đang kinh doanh phi nông nghiệp của anh B để làm dịch vụ. Nghe anh A đề nghị, anh B đồng ý, nhưng sau đó có người bảo anh B đổi như vậy là vi phạm pháp luật nên khi anh A đến để bàn cụ thể với anh B về việc này thì anh B không đồng ý nữa. Hai bên cãi nhau. Hỏi anh A và anh B có được chuyển đổi quyền sử dụng đất cho nhau không? ( anh A và anh B đều là nông dân trực tiếp sản xuất nông nghiệp)
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 190 Luật đất đai năm 2013, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao đất, do chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác thì chỉ được chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng xã, phường, thị trấn cho hộ gia đình, cá nhân khác để thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và không phải nộp thuế thu nhập từ việc chuyển đổi quyền sử dụng đất và lệ phí trước bạ.
Như vậy, việc chuyển đổi quyền sử dụng đất phải đáp ứng được các tiêu chí sau:
+ Chỉ được phép chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp để tổ chức lại sản xuất.
+ Chỉ được phép chuyển đổi quyền sử dụng đất trong phạm vi hành chính của xã, phường, thị trấn.
+ Sau khi chuyển đổi phải sử dụng đất đúng mục đích.
Như vậy, việc chuyển đổi quyền sử dụng đất của anh A cho anh B và ngược lại là không phù hợp với các quy định của pháp luật đất đai. Bởi vì, pháp luật không cho phép chuyển đổi giữa loại đất nông nghiệp với loại đất phi nông nghiệp, dù rằng anh A và anh B đều là nông dân và trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Việc chuyển đổi nói trên nếu thực hiện, thì đó là việc chuyển đổi quyền sử dụng đất bất hợp pháp và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
3. Anh A và anh B tranh chấp về ranh giới sử dụng đất. Anh A đề nghị tổ hòa giải thôn hòa giải. Tổ hòa giải đã tổ chức hoà giải và lập biên bản hoà giải thành. Sau đó 5 ngày, hai bên dưới sự chứng kiến của tổ hòa giải tổ chức đo đạc lại hiện trạng sử dụng đất thì anh A thay đổi ý kiến so với kết quả hoà giải ban đầu và cương quyết không chấp nhận kết quả hoà giải. Trường hợp này tiếp tục được giải quyết như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2014, Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở. Nếu tranh chấp đã được hòa giải thành thông qua hòa giải ở cơ sở, nhưng sau đó một trong hai bên lại không nhất trí với kết quả hoà giải này, thì tổ hòa giải thuyết phục các bên tiếp tục hoà giải.
Tranh chấp đất đai mà tự các bên tranh chấp không hòa giải được hoặc tổ hòa giải tiến hành không thành thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai. Cần phải hiểu rằng, thủ tục hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã là một thủ tục bắt buộc trong giải quyết tranh chấp đất đai.
Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định tại Điều 203 Luật đất đai năm 2013.
4. Ông C nhận chuyển nhượng lô đất có diện tích 100m2 từ ông Đ bằng hợp đồng viết tay có tổ trưởng khu dân phố ký làm chứng. Hỏi, việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông C trong trường hợp nêu trên có được pháp luật công nhận hay không?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 167 của Luật đất đai năm 2013, hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực. Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại UBND cấp xã.
Như vậy, việc ông C nhận chuyển nhượng lô đất từ ông Đ bằng hợp đồng viết tay có tổ trưởng khu dân phố ký làm chứng là không có giá trị pháp lý hay nói cách khác là không được pháp luật công nhận. Do đó, muốn hợp pháp hóa việc nhận chuyển nhượng lô đất của mình, ông C phải cùng ông Đ ký hợp đồng được công chứng tại các tổ chức hành nghề công chứng hoặc được chứng thực tại UBND cấp xã.
5. Giữa anh A và chị B có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nội dung: anh A chuyển nhượng cho chị B 120 m2, chị B phải trả cho anh A 300 triệu (thanh toán làm 3 lần, mỗi lần 100 triệu đồng). Hợp đồng nói trên được UBND xã xác nhận. Chị B đã thanh toán được 200 triệu và được anh A tạm giao đất để sử dụng. Tuy nhiên, đã quá hạn thanh toán nhưng chị B không có khả năng trả nợ. Các thủ tục chuyển quyền sử dụng đất chưa được anh A và chị B thực hiện. Vậy anh A có quyền đòi lại đất không?
Trả lời:
Khoản 3 Điều 188 Luật đất đai năm 2013 có quy định: “Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, chế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”. Như vậy, mặc dù anh A và chị B ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 120 m2 đất và đã có xác nhận của UBND cấp xã, nhưng họ chưa làm các thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai. Cụ thể, đó là chưa làm thủ tục đăng ký việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc phòng Tài nguyên và Môi trường của UBND cấp huyện. Do vậy, hợp đồng này chưa có hiệu lực pháp luật. Mặt khác, chị B cũng chưa thanh toán đầy đủ tiền cho anh A theo như thoả thuận và thậm chí không còn khả năng trả nợ cho anh A. Do vậy, theo quy định của pháp luật, anh A tạo điều kiện cho chị B một thời hạn để trả nợ và hoàn tất các thủ tục cần thiết về chuyển quyền sử dụng đất. Nếu quá thời hạn đó mà chị B vẫn không có khả năng trả nợ thì anh A gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Nếu việc hòa giải tại UBND cấp xã không thành, anh A có quyền yêu cầu Toà án nhân dân giải quyết theo thẩm quyền được quy định tại Điều 203 Luật đất đai năm 2013.
6. Năm 1997, tôi dành dụm được 100 triệu đồng mua một mảnh đất khoảng 30m2 bằng giấy tay. Sau đó tôi xây dựng một ngôi nhà cấp 4. Tôi đã sinh sống ở ngôi nhà đó được 6 năm, nhưng giờ ông A - chủ sở hữu quyền sử dụng mảnh đất nói trên muốn lấy lại.
Xin hỏi, trường hợp của tôi giải quyết cách nào là tốt nhất?
Trả lời:
Theo quy định của pháp luật hiện hành, người sử dụng đất chỉ được thực hiện các quyền của người sử dụng đất như: chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế... khi đất đã được cấp GCNQSDĐ.
Ngoài ra, khi thực hiện giao dịch phải tuân thủ quy định về mặt hình thức của giao dịch, cụ thể tại điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013 quy định: Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản 3 Điều 167 Luật đất đai 2013.
Việc mua bán đất không được lập thành văn bản có chứng nhận của cơ quan công chứng hoặc chứng thực của UBND cấp có thẩm quyền còn gọi là mua bán đất bằng giấy tay. Theo hướng dẫn tại điểm 2.3 mục II Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, đối với việc mua bán đất bằng giấy tay được thực hiện từ sau ngày 15/10/1993 và đất chuyển nhượng chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm, đã làm nhà kiên cố... và bên chuyển nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì Toà án công nhận hợp đồng. Nếu bên nhận chuyển nhượng chỉ làm nhà trên một phần đất, thì Toà án công nhận phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất có nhà ở và huỷ phần hợp đồng đối với diện tích đất còn lại, buộc bên nhận chuyển nhượng giao trả phần đất đó cho bên chuyển nhượng, trừ trường hợp việc giao trả không bảo đảm mục đích sử dụng cho cả hai bên giao kết hợp đồng, đồng thời buộc các bên thanh toán cho nhau phần chênh lệch.
Trong trường hợp này, bạn nên thỏa thuận với ông A tự hòa giải hoặc hòa giải thông qua hòa giải ở cơ sở.
Nếu không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Nếu hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì gửi đơn đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết.
7. Gia đình ông H có 3000 m2 đất nông nghiệp trồng nhãn ở ven sông thuộc xã C. Do đặc thù của dòng chảy nên bên bờ đối diện (thuộc xã D) bị lở và bên bờ phía nhà ông H được bồi đắp. Sau 10 năm, diện tích được bồi đắp khoảng 400m2. Ông H tổ chức trồng nhãn thì nhân dân xã D sang tranh chấp với lý do phần đất lở của xã D bồi đắp nên diện tích trên. Vì vậy, quyền sử dụng phải thuộc về nhân dân xã D. Trường hợp này giải quyết như thế nào?
Trả lời:
Diện tích 400m2 được nhìn nhận là đất bãi bồi của sông, không thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông H cũng như nhân dân xã D.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 141 Luật đất đai năm 2013, đất bãi bồi ven sông, ven biển thuộc địa phận xã, phường, thị trấn nào thì do UBND cấp xã đó quản lý.
Như vậy, UBND xã C có trách nhiệm quản lý diện tích 400m2 đất bãi bồi ven sông nói trên và báo cáo với UBND huyện để có kế hoạch sử dụng phù hợp với tình hình thực tế và các quy định của pháp luật. UBND cấp huyện có thể giao hoặc cho thuê đối với hộ gia đình, cá nhân thiếu đất sản xuất.
Tranh chấp giữa ông H và nhân dân xã D thuộc loại tranh chấp quyền sử dụng đất mà người đang sử dụng không có giấy tờ hợp pháp, hợp lệ về quyền sử dụng đất. Nguồn gốc hình thành nên vốn đất này do bồi tụ tự nhiên của dòng chảy vùng bãi sông tạo nên. Trách nhiệm giải quyết tranh chấp nói trên thuộc UBND cấp huyện. Trong quá trình giải quyết, UBND cấp huyện có thể quyết định việc giao đất hoặc cho thuê đất đối với hộ gia đình, cá nhân cụ thể được quyền sử dụng 400m2 đất bãi bồi nói trên.
8. Năm 1992, gia đình ông M được UBND huyện giao cho 140 m2 đất “giãn dân” để ở, các thành viên trong gia đình đều đóng góp xây dựng nhà kiên cố trên đất. Năm 1993, khi tách hộ, một thành viên quản lý, sử dụng diện tích nhà đất này, đứng tên trong sổ địa chính của xã, hàng năm có đóng thuế đất. Nay thành viên này cho rằng, đất và nhà là của riêng của họ, không ai có quyền đòi chia. Việc trả lời như vậy đã thoả đáng chưa, vậy cơ quan nào có trách nhiệm giải quyết việc trên?
Trả lời:
Điều 212 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“1. Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.
2. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận. Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần được quy định tại Bộ luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 213 của Bộ luật này”.
Từ các quy định trên, áp dụng vào trường hợp cụ thể có thể thấy rằng, đất giao cho hộ gia đình là tài sản chung của hộ gia đình. Trong khi đó, để xây dựng nên ngôi nhà trên đều có công sức đóng góp của mọi thành viên trong gia đình. Do vậy, diện tích đất giao cho hộ gia đình và công sức đóng góp của tất cả thành viên xây dựng ngôi nhà kiên cố không phải là tài sản riêng của một thành viên nào, trừ trường hợp các thành viên tặng cho chung một người trong hộ gia đình.
Do vậy, một thành viên của hộ gia đình quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích nhà đất không có nghĩa là nhà đất đó thuộc quyền sở hữu, sử dụng của riêng họ. Đây là tài sản chung của mọi thành viên hộ gia đình. Cho nên việc trả lời nói trên của người đang quản lý, sử dụng nhà đất trên là chưa phù hợp với các quy định của pháp luật. Trường hợp có tranh chấp xảy ra mà các thành viên trong hộ gia đình không thể thoả thuận giải quyết được thì khuyến khích hòa giải thông qua hòa giải ở co sở, nếu không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất để hòa giải. Nếu đã qua hoà giải ở UBND cấp xã mà vẫn không có kết quả thì thẩm quyền giải quyết sự việc trên do Toà án nhân dân cấp huyện nơi có đất giải quyết.
9. Bà Y có 300m2 đất ở và ao vườn liền kề đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1995, do chồng con hay đau ốm, nhà neo người nên không sử dụng hết đất. Bà đã cho ông D là người bà con trong họ ở nhờ. Hiện nay bà có nhu cầu sử dụng đất để ở nhưng ông D cứ lần nữa không chịu trả. Vậy việc cho mượn nói trên giải quyết như thế nào?
Trả lời:
Quan hệ giữa bà Y và ông D là việc cho mượn, cho ở nhờ trên đất đã có giấy tờ hợp pháp. Việc cho ở nhờ là một nghĩa cử đáng trân trọng. Ông D phải chịu ơn bà Y trong trường hợp này. Tuy nhiên, đã đến lúc bà Y cần đất cho nhu cầu ở của mình và muốn chấm dứt tình trạng cho mượn đất ở nhờ. Nếu là người hoàn toàn tôn trọng đạo lý và tình người, ông D sẽ phải nói lời cám ơn với bà Y và chuyển đi ở nơi khác. Song sự thật lại không phải như vậy, mặc dù bà Y đã có ý đòi lại đất nhưng xem ra ông D không muốn chuyển đi.
Đất mà ông D sử dụng là đất thuộc quyền sử dụng của bà B, rõ ràng ông D không có quyền sử dụng đối với mảnh đất đó. Do vậy, khi người có quyền sử dụng đòi lại mà ông D không trả là vi phạm pháp luật đất đai.
Trong trường hợp ông D cố tình không trả đất cho bà Y, bà Y làm hồ sơ gửi đến UBND cấp xã nơi có đất để xem xét giải quyết đòi lại đất đã cho mượn, cho ở nhờ nói trên. Nếu việc hoà giải tranh chấp đất đai này tại UBND cấp xã không thành thì thẩm quyền giải quyết sự việc trên do Toà án nhân dân cấp huyện nơi có đất giải quyết.
10. Bà A sử dụng 1.000 m² đất trồng lúa và đã được cấp GCNQSDĐ. Với lý do diện tích đất sản xuất của nhà bà lớn trong khi nhân khẩu gia đình chỉ có 2 người, khó có thể thực hiện việc canh tác có hiệu quả, UBND xã H đã cắt bớt 400 m² đất của nhà bà (có bồi thường) để giao lại cho một hộ nghèo khác của tỉnh.
Hỏi:
a) Những việc làm của UBND xã H trong vụ việc trên là đúng hay sai? Giải thích vì sao?
b) Hãy tư vấn cho bà A cách thức để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Trả lời:
a) Những việc làm của UBND xã H là sai:
- Thu hồi không đúng thẩm quyền. Với cá nhân thẩm quyền thu hồi đất thuộc về UBND cấp huyện ( Điều 66 Luật đất đai năm 2013).
- Thu hồi đất không đúng với một trong các lý do được Luật đất đai năm 2013 quy định tại các điều 61, 62, 64, 65.
- Giao đất không đúng thẩm quyền. Đúng thẩm quyền phải là UBND cấp huyện (Điều 59 Luật đất đai năm 2013).
b) Để bảo vệ quyền lợi của mình, bà A cần:
- Khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp huyện về việc làm của UBND xã H và hỏi về tình trạng pháp lý GCNQSDĐ của mình.
- Nếu UBND cấp huyện không giải quyết thỏa đáng thì bà có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân cấp huyện.
11. Hộ gia đình bà K đang sử dụng 10.000m2 đất trồng lúa tại xã C, huyện Đ, Hà Nội. Diện tích đất này gia đình bà được giao từ năm 1993.
Hiện bà muốn đổi diện tích đất trên để lấy: (1) 1600 m² nhà ở có vườn ao của ông H cùng thôn; hoặc (2) 10.000 m2 đất trồng rau màu của bà X ở huyện P liền kề thì có được không?
Trả lời:
Quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất là một quyền năng quan trọng của người sử dụng đất, phục vụ trực tiếp cho công tác "dồn điền đổi thửa", tránh tình trạng đất đai manh mún, khó áp dụng khoa học kỹ thuật, năng suất sản xuất không cao.
Điểm a khoản 1 Điều 179 Luật đất đai năm 2013 quy định: Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao trong hạn mức; đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất; đất nhận chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế thì có quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia đình, cá nhân khác.
Điều kiện chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp được quy định tại Điều 190 Luật đất đai năm 2013 như sau: "Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao đất, do chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp từ người khác thì chỉ được chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng xã, phường, thị trấn cho hộ gia đình, cá nhân khác để thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và không phải nộp thuế thu nhập từ việc chuyển đổi quyền sử dụng đất và lệ phí trước bạ."
Căn cứ vào các quy định pháp luật trên thì:
(1) Bà K không được đổi 10.000 m2 đất nông nghiệp của mình để lấy 1600m² nhà ở có vườn ao của ông H cùng thôn, bởi lẽ: Quyền chuyển đổi chỉ được thực hiện đối với đất nông nghiệp, không được thực hiện đối với đất ở.
(2) Bà K không được đổi 10.000 m2 đất nông nghiệp của mình để lấy 10.000 m2 đất trồng rau màu của bà X ở huyện P liền kề, bởi lẽ: đất nông nghiệp mà các hộ gia đình, cá nhân chuyển đổi cho nhau phải nằm trên cùng một địa bàn xã, phường, thị trấn. Trong khi đó, đất nông nghiệp của bà X lại nằm khác huyện với bà K.
12. Để thực hiện dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đất hỗn hợp và tuyến đường liền kề thuộc địa bàn phường T, quận H (dự án đã được UBND thành phố Y phê duyệt), ngày 02/7/2014, UBND quận H ban hành Thông báo về việc thu hồi đất của 235 hộ gia đình, cá nhân. Ngày 04/11/2014, UBND quận H ban hành Quyết định thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Ngày 25/02/2015, toàn bộ 183 quyết định thu hồi đất được ký ban hành. Sau khi các quyết định thu hồi đất được ban hành, Bảng tổng hợp phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được xây dựng, UBND phường T đã mời đại diện các hộ dân lên trụ sở UBND phường để lấy ý kiến về vấn đề bồi thường theo Bảng tổng hợp phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, nhưng không tiến hành giao Quyết định thu hồi đất. Ngày 13/5/2015, UBND thành phố Y ban hành Quyết định giao cho UBND quận H “phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chi tiết, tổ chức bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho người bị thu hồi đất theo quy định”.
Hỏi: Vụ việc thu hồi đất trên có những sai phạm gì?
Trả lời:
Trình tự, thủ tục thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng được quy định tại Điều 69 Luật đất đai năm 2013. Theo đó, việc thu hồi đất sẽ phải lần lượt trải qua các bước sau:
- Thông báo thu hồi đất.
- Điều tra thực địa, kiểm đếm tài sản.
- Lập, lấy ý kiến, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
- Phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và ra quyết định thu hồi đất.
- Thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
- Vận động, thuyết phục đối với người không hợp tác thực hiện.
- Cưỡng chế (nếu cần).
- Tiếp quản đất đã giải phóng mặt bằng.
Như vậy, trong vụ việc thu hồi đất trên, UBND quận H đã có các sai phạm sau:
+ Các quyết định thu hồi đất được ban hành trước, sau đó toàn bộ quy trình xây dựng, lấy ý kiến, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mới được tiến hành là ngược về trình tự thủ tục. Quyết định thu hồi đất được ban hành nhưng lại không giao đến tay người có đất bị thu hồi.
+ Quyết định thu hồi đất là quyết định hành chính, có tính chất cá biệt. Mặc dù thu hồi đất của 235 hộ gia đình, cá nhân nhưng chỉ có 183 quyết định thu hồi đất được UBND quận H ban hành.
13. Hộ gia đình nhà ông C bị thu hồi đất ở và được bồi thường bằng tiền theo giá đất do UBND tỉnh quy định tại thời điểm thu hồi đất. Ông C phản đối và cho rằng Nhà nước thu hồi đất của gia đình ông thì bắt buộc phải bồi thường bằng việc giao đất khác cho gia đình ông. Hỏi: Ông C lập luận như vậy có căn cứ pháp lý không?
Trả lời:
Điều 74 Luật đất đai năm 2013 quy định việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất cần tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
1. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật đất đai thì được bồi thường.
2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
3. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.
Như vậy, nếu không có đất để bồi thường cho hộ gia đình ông C thì việc Nhà nước bồi thường bằng tiền đối với hộ gia đình ông C là phù hợp với quy định của pháp luật.
14. Gia đình ông V có 850 m² đất tại phường T. Diện tích đất này nhà ông đã được UBND huyện cấp sổ đỏ năm 2003 và bị UBND quận K thu hồi vào tháng 10/2014. UBND quận cho rằng phần bị thu hồi để làm đường giao thông liên tỉnh (theo bản đồ lập năm 2005). Gia đình ông đã khiếu nại nhưng bị Chủ tịch UBND quận K bác đơn.
Hỏi: Ông V cần làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình?
Trả lời:
Điều 204 Luật đất đai năm 2013 quy định:
"1. Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.
2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính."
Theo quy định tại Điều 7 Luật khiếu nại năm 2011 về trình tự khiếu nại: Trường hợp này, khiếu nại của ông V đã được Chủ tịch UBND quận K giải quyết khiếu nại lần đầu (nội dung giải quyết: ra quyết định bác đơn). Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu của Chủ tịch UBND quận K thì ông có quyền nại lần hai đến Chủ tịch UBND thành phố hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
15. UBND huyện T quyết định thu hồi đất trồng rừng đã giao cho hộ gia đình ông C do hộ gia đình ông C có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai. Hộ gia đình ông C khiếu nại việc thu hồi đất của UBND huyện T. UBND huyện T tiến hành cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đối với gia đình ông C, ông C tiếp tục phản đối vì cho rằng khi chưa có quyết định giải quyết khiếu nại thì gia đình ông không phải thực hiện quyết định thu hồi đất.
Hỏi: Trong trường hợp này theo quy định của pháp luật thì gia đình ông C có phải thực hiện quyết định thu hồi đất không?
Trả lời:
Theo quy định tại Khoản 6 Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, người có đất thu hồi, tổ chức, cá nhân có liên quan có quyền khiếu nại về việc thu hồi đất theo quy định của pháp luật về khiếu nại.
Trong khi chưa có quyết định giải quyết khiếu nại thì vẫn phải tiếp tục thực hiện quyết định thu hồi đất, quyết định cưỡng chế thu hồi đất. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có kết luận việc thu hồi đất là trái pháp luật thì phải dừng cưỡng chế nếu việc cưỡng chế chưa hoàn thành; hủy bỏ quyết định thu hồi đất đã ban hành và bồi thường thiệt hại do quyết định thu hồi đất gây ra (nếu có).
Như vậy, theo quy định trên, trong khi chưa có quyết định giải quyết khiếu nại thì hộ gia đình ông C vẫn phải thực hiện quyết định thu hồi đất.
C. VĂN BẢN PHÁP LUẬT
- Luật Đất đai năm 2013.
- Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014.
- Luật Nhà ở năm 2014.
- Luật Xây dựng năm 2014.
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013.
- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về giá đất.
- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 về thu tiền sử dụng đất.
- Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.
- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
- Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
- Nghị định số 104/2014/NĐ-CP ngày 14/11/2014 của Chính phủ quy định về khung giá đất.
- Thông tư số 02/2014/TT-BTC ngày 02/01/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Thông tư số 77/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 46/2014/NĐ-CP về thu tiền thuê đất.
- Thông tư số 76/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 46/2014/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất.
- Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 về hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính.
- Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất
- Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất.
- Thông tư số 34/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về xây dựng, quản lý, khai thác hệ thống thông tin đất đai.
- Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết phương pháp định giá đất, xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất; định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất.
- Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Phần thứ hai. Lĩnh vực pháp luật xây dựng
I. KIẾN THỨC PHÁP LUẬT
I. CẤP PHÉP XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
1. Giấy phép xây dựng
Theo khoản 17 Điều 3 Luật Xây dựng năm 2014 thì Giấy phép xây dựng là văn bản pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho chủ đầu tư để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời công trình.
Giấy phép xây dựng bao gồm giấy phép xây dựng có thời hạn và giấy phép xây dựng theo giai đoạn; trong đó:
- Giấy phép xây dựng có thời hạn là giấy phép xây dựng cấp cho xây dựng công trình, nhà ở riêng lẻ được sử dụng trong thời hạn nhất định theo kế hoạch thực hiện quy hoạch xây dựng.
- Giấy phép xây dựng theo giai đoạn là giấy phép xây dựng cấp cho từng phần của công trình hoặc từng công trình của dự án khi thiết kế xây dựng của công trình hoặc của dự án chưa được thực hiện xong.
Như vậy, khi xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo nhà ở thì người dân phải xin giấy phép xây dựng. Việc cấp giấy phép xây dựng là một phương thức để Nhà nước quản lý hoạt động xây dựng nhằm đảm bảo công trình xây dựng tuân thủ quy hoạch xây dựng, phù hợp với kiến trúc cảnh quan của đô thị hoặc của khu dân cư nông thôn.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 89 Luật xây dựng năm 2014 thì Giấy phép xây dựng bao gồm:
i) Giấy phép xây dựng mới;
ii) Giấy phép sửa chữa, cải tạo;
iii) Giấy phép di dời công trình.
Thời hạn khởi công công trình không quá 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép xây dựng.
2. Trường hợp phải xin giấy phép xây dựng, trường hợp không phải xin giấy phép xây dựng
Theo Luật Xây dựng năm 2014, trước khi khởi công xây dựng công trình, chủ đầu tư phải có giấy phép xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trừ các trường hợp được miễn giấy phép xây dựng sau đây:
i) Công trình bí mật nhà nước, công trình xây dựng theo lệnh khẩn cấp và công trình nằm trên địa bàn của hai đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên.
ii) Công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng được Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp (UBND các cấp) quyết định đầu tư.
iii) Công trình xây dựng tạm phục vụ thi công xây dựng công trình chính.
iv) Công trình xây dựng theo tuyến ngoài đô thị nhưng phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận về hướng tuyến công trình.
v) Công trình xây dựng thuộc dự án khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và được thẩm định thiết kế xây dựng theo quy định của Luật Xây dựng.
vi) Nhà ở thuộc dự án phát triển đô thị, dự án phát triển nhà ở có quy mô dưới 7 tầng và tổng diện tích sàn dưới 500m2 có quy hoach chi tiết 1/500 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
vii) Công trình sửa chữa, cải tạo, lắp đặt thiết bị bên trong công trình không làm thay đổi kết cấu chịu lực, không làm thay đổi công năng sử dụng, không làm ảnh hưởng tới môi trường, an toàn công trình.
viii) Công trình sửa chữa, cải tạo làm thay đổi kiên strusc mặt ngoài không tiếp giáp với đường trong đô thị có yêu cầu về quản lý kiến trúc.
ix) Công trình hạ tầng kỹ thuật ở nông thôn chỉ yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng và ở khu vực chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng điểm dân cư nông thôn được duyệt.
x) Công trình xây dựng ở nông thôn thuộc khu vực chưa có quy hoạch phát triển đô thị và quy hoạch chi tiết xây dựng được duyệt; nhà ở riêng lẻ ở nông thôn, trừ nhà ở riêng lẻ xây dựng trong khu bảo tồn, khu di tích lịch sử - văn hóa thì phải có giấy phép xây dựng.
Chủ đầu tư xây dựng công trình được miễn giấy phép xây dựng theo quy định tại các điểm ii, iv, v, ix nêu trên có trách nhiệm thông báo thời điểm khởi công xây dựng kèm theo hồ sơ thiết kế xây dựng đến cơ quan quản lý xây dựng tại địa phương để theo dõi, lưu hồ sơ.
3. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, điều chỉnh, gia hạn, cấp lại và thu hồi giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ
Theo quy định tại Điều 103 Luật xây dựng năm 2014, UBND cấp huyện cấp giấy phép xây dựng đối với các công trình, nhà ở riêng lẻ xây dựng trong đô thị, trung tâm cụm xã, trong khu bảo tồn, khu di tích lịch sử - văn hóa thuộc địa bàn do mình quản lý.
Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng là cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh, gia hạn, cấp lại và thu hồi giấy phép xây dựng do mình cấp.
Trường hợp cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng không thu hồi giấy phép xây dựng đã cấp không đúng quy định thì UBND cấp tỉnh trực tiếp quyết định thu hồi giấy phép xây dựng.
4. Quyền và nghĩa vụ của người đề nghị cấp giấy phép xây dựng
Luật xây dựng năm 2014 quy định về quyền và nghĩa vụ của người đề nghị cấp giấy phép xây dựng như sau:
(1) Tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy phép xây dựng có các quyền sau:
i) Yêu cầu cơ quan cấp giấy phép xây dựng giải thích, hướng dẫn và thực hiện đúng các quy định về cấp giấy phép xây dựng.
ii) Khiếu nại, khởi kiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc cấp giấy phép xây dựng.
iii) Được khởi công xây dựng công trình theo quy định của Luật xây dựng.
(2) Tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy phép xây dựng có các nghĩa vụ sau:
i) Nộp đầy đủ hồ sơ và lệ phí cấp giấy phép xây dựng.
ii) Chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nội dung hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng.
iii) Thông báo ngày khởi công xây dựng bằng văn bản cho UBND cấp xã nơi xây dựng công trình trong thời hạn 07 ngày làm việc trước khi khởi công xây dựng công trình.
iv) Thực hiện đúng nội dung của giấy phép xây dựng.
5. Điều chỉnh giấy phép xây dựng
Trong quá trình xây dựng, trường hợp có điều chỉnh thiết kế làm thay đổi một trong các nội dung dưới đây thì chủ đầu tư phải đề nghị điều chỉnh giấy phép xây dựng:
i) Thay đổi hình thức kiến trúc mặt ngoài của công trình đối với công trình trong đô thị thuộc khu vực có yêu cầu về quản lý kiến trúc.
ii) Thay đổi một trong các yếu tố về vị trí, diện tích xây dựng; quy mô, chiều cao, số tầng của công trình và các yếu tố khác ảnh hưởng đến kết cấu chịu lực chính.
iii) Khi điều chỉnh thiết kế bên trong công trình làm thay đổi công năng sử dụng làm ảnh hưởng đến an toàn, phòng, chống cháy, nổ, bảo vệ môi trường.
6. Thu hồi giấy phép xây dựng
Giấy phép xây dựng bị thu hồi trong các trường hợp sau:
i) Giấy phép xây dựng được cấp không đúng quy định của pháp luật;
ii) Chủ đầu tư không khắc phục việc xây dựng sai với giấy phép xây dựng trong thời hạn ghi trong văn bản xử lý vi phạm theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Sau 10 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi giấy phép xây dựng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp thu hồi, hủy, nếu chủ đầu tư không nộp lại giấy phép xây dựng cho cơ quan đã cấp giấy phép thì cơ quan cấp giấy phép hoặc cơ quan có thẩm quyền quyết định hủy giấy phép xây dựng và thông báo cho chủ đầu tư, UBND cấp xã nơi có công trình xây dựng. Quyết định hủy giấy phép xây dựng được đăng trên trang thông tin điện tử của Sở xây dựng.
II. CHỈ GIỚI ĐƯỜNG ĐỎ
Theo khoản 5 Điều 3 Luật xây dựng năm 2014, chỉ giới đường đỏ là đường ranh giới được xác định trên bản đồ quy hoạch và thực địa để phân định ranh giới giữa phần đất công trình và phần đất được dành cho đường giao thông hoặc công trình hạ tầng kỹ thuật, không gian công cộng khác.
Như vậy, theo quan niệm này, tổ chức, cá nhân chỉ được phép xây dựng nhà ở, công trình xây dựng nằm bên trong chỉ giới đường đỏ.
Trong trường hợp tổ chức, cá nhân xây dựng nhà ở, công trình xây dựng nằm bên ngoài chỉ giới đường đỏ có nghĩa là đã vi phạm pháp luật xây dựng và nhà ở, công trình xây dựng này bị coi là xây dựng trái phép sẽ được yêu cầu tự phá dỡ hoặc bị cưỡng chế phá dỡ.
Theo khoản 6 Điều 3 Luật xây dựng năm 2014, chỉ giới xây dựng là đường giới hạn cho phép xây dựng công trình chính trên thửa đất.
Sự khác nhau giữa chỉ giới đường đỏ và chỉ giới xây dựng thể hiện ở những điểm chủ yếu sau đây:
- Chỉ giới đường đỏ là ranh giới xác định trên bản đồ và trên thực địa để phân định giữa phần đất được xây dựng công trình và phần đất không được xây dựng công trình mà dành để sử dụng cho làm đường giao thông, công trình hạ tầng kỹ thuật hoặc không gian công cộng khác.
- Trong khi đó, chỉ giới xây dựng là đường giới hạn cho phép xây dựng công trình chính trên thửa đất.
III. NHỮNG HÀNH VI BỊ NGHIÊM CẤM
Điều 12 Luật xây dựng năm 2014 quy định trong lĩnh vực xây dựng nghiêm cấm tổ chức, cá nhân thực hiện các hành vi sau đây:
- Quyết định đầu tư xây dựng không đúng với quy định của Luật xây dựng.
- Khởi công xây dựng công trình khi chưa đủ điều kiện khởi công theo quy định của Luật xây dựng.
- Xây dựng công trình trong khu vực cấm xây dựng; xây dựng công trình lấn chiếm hành lang bảo vệ công trình quốc phòng, an ninh, giao thông, thủy lợi, đê điều, năng lượng, khu di tích lịch sử - văn hóa và khu vực bảo vệ công trình khác theo quy định của pháp luật; xây dựng công trình ở khu vực đã được cảnh báo về nguy cơ lở đất, lũ quét, lũ ống, trừ công trình xây dựng để khắc phục những hiện tượng này.
- Xây dựng công trình không đúng quy hoạch xây dựng, trừ trường hợp có giấy phép xây dựng có thời hạn; vi phạm chỉ giới xây dựng, cốt xây dựng; xây dựng công trình không đúng với giấy phép xây dựng được cấp.
- Lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toáncủa công trình xây dựng sử dụng vốn nhà nước trái với quy định của Luật xây dựng.
- Nhà thầu tham gia hoạt động xây dựng khi không đủ điều kiện năng lực để thực hiện hoạt động xây dựng.
- Chủ đầu tư lựa chọn nhà thầu không đủ điều kiện năng lực để thực hiện hoạt động xây dựng.
- Xây dựng công trình không tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được lựa chọn áp dụng cho công trình.
- Sản xuất, sử dụng vật liệu xây dựng gây nguy hại cho sức khỏe cộng đồng, môi trường.
- Vi phạm quy định về an toàn lao động, tài sản, phòng, chống cháy, nổ, an ninh, trật tự và bảo vệ môi trường trong xây dựng.
- Sử dụng công trình không đúng với mục đích, công năng sử dụng; xây dựng cơi nới, lấn chiếm diện tích, lấn chiếm không gian đang được quản lý, sử dụng hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và của khu vực công cộng, khu vực sử dụng chung.
- Đưa, nhận hối lộ trong hoạt động đầu tư xây dựng; lợi dụng pháp nhân khác để tham gia hoạt động xây dựng; dàn xếp, thông đồng làm sai lệch kết quả lập dự án, khảo sát, thiết kế, giám sát thi công xây dựng công trình.
- Lạm dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm pháp luật về xây dựng; bao che, chậm xử lý hành vi vi phạm pháp luật về xây dựng.
- Cản trở hoạt động đầu tư xây dựng đúng pháp luật.
IV. VẤN ĐỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VIỆC XÂY DỰNG GÂY HẬU QUẢ BẤT LỢI CHO NGƯỜI KHÁC
Trong quá trình xây dựng công trình, các chủ đầu tư phải luôn chú ý đến việc không làm ảnh hưởng đến lợi ích của người xung quanh, đảm bảo vệ sinh môi trường, không gây thiệt hại cho các bên có liên quan. Tuy nhiên, với mặt bằng chật hẹp, dù người xây dựng không hề mong muốn có sự cố công trình hoặc những ảnh hưởng bất lợi cho người cạnh khu vực xây dựng, song những vi phạm xẩy ra dẫn tới lún, nứt công trình, gây thiệt hại cho người khác thì ngay lập tức chủ đầu tư xây dựng công trình phải ngừng thi công, tìm hiểu nguyên nhân và hợp tác với các bên có liên quan để bàn biện pháp khắc phục.
V. VẤN ĐỀ ĐẢM BẢO VỆ SINH MÔI TRƯỜNG TRONG THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
Với quá trình đô thị hoá nhanh hiện nay, việc đảm bảo vệ sinh môi trường đối với các công trình xây dựng là trách nhiệm của các chủ đầu tư. Hiện tượng nhiều công trình có nhu cầu thải chất thải rắn đã không đổ đúng các bãi thải quy định, mà lợi dụng lúc vắng người để đổ bừa bãi ra khu vực không được đổ phế thải, thậm chí đổ ra ngoài đường gây ách tắc giao thông, cản trở việc đi lại trong khu dân cư của người dân. Do vậy, việc kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về vệ sinh môi trường, việc đổ phế thải rắn tại các công trình xây dựng cần phải được phát hiện, ngăn ngừa và xử lý triệt để.
Trong quá trình thi công công trình xây dựng, bên cạnh việc không gây lún, nứt, thiệt hại cho người khác thì các chủ xây dựng công trình phải tuân thủ các quy định sau:
- Lập và thực hiện các biện pháp bảo đảm vệ sinh môi trường trong quá trình thi công xây dựng bao gồm môi trường không khí, môi trường nước, chất thải rắn, tiếng ồn và các yêu cầu khác về vệ sinh môi trường.
- Bồi thường thiệt hại do những vi phạm về vệ sinh môi trường do mình gây ra trong quá trình thi công xây dựng và vận chuyển vật liệu xây dựng.
B. TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT
1. Ông X hiện đang ở tại một căn hộ tầng một. Do bà K ở tầng 2 cơi nới xây dựng thêm một căn phòng 12 m2 làm toàn bộ phần mặt tường phía sau khu bếp và công trình phụ của nhà ông X đang sử dụng bị rạn nứt và lún. Vậy, ông X cần phải làm gì để bảo vệ sự an toàn tính mạng của gia đình và độ bền vững của công trình?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 118 Luật xây dựng năm 2014 thì công trình xây dựng sai quy hoạch xây dựng, công trình xây dựng không có giấy phép đối với công trình theo quy định phải có giấy phép hoặc xây dựng sai với nội dung quy định trong giấy phép xây dựng thì phải bị phá dỡ.
Đồng thời khoản 3 Điều 118 Luật xây dựng năm 2014 cũng quy định tổ chức, cá nhân sở hữu hoặc đang sử dụng công trình thuộc diện phải phá dỡ phải chấp hành quyết định phá dỡ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; trường hợp không chấp hành thì bị cưỡng chế và chịu mọi chi phí cho việc phá dỡ.
Căn cứ vào các quy định nêu trên, việc xây dựng có tính chất cơi nới của bà K để làm thêm căn phòng tầng 2 là trái pháp luật. Bà K phải phá dỡ công trình đó, nếu bà K không tự nguyện thực hiện thì sẽ bị cưỡng chế phá bỏ căn phòng trên. Các chi phí có liên quan đến việc phá dỡ công trình bà K phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Tuy nhiên, với các thiệt hại thực tế mà bà K gây cho gia đình ông X thì hai bên hoà giải, thương thảo để bồi thường phần gây lún, nứt đối với khu bếp và phần công trình phụ của nhà ông X. Hai bên bàn thảo việc khắc phục hậu quả trên tinh thần thông cảm và chia sẻ, nếu không đạt được các yêu cầu đó ông X có quyền yêu cầu bà K bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự.
2. Ông H xây nhà trái thiết kế (xây thêm tầng) được cấp phép gây sụt lún nhà bên cạnh. Hàng xóm yêu cầu phải bồi thường thiệt hại nhưng nhà ông H lần nữa không thực hiện. Xin hỏi pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?
Trả lời:
Tại khoản 2 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng quy định trách nhiệm về tổ chức thi công xây dựng (sau đây gọi là Nghị định số 121/2013/NĐ-CP) quy định:
"2. Xử phạt đối với các hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình vi phạm các quy định về xây dựng gây lún, nứt, hư hỏng công trình lân cận hoặc công trình hạ tầng kỹ thuật như sau:
a) Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với xây dựng nhà ở riêng lẻ nông thôn hoặc công trình xây dựng khác không thuộc trường hợp quy định tại Điểm b, Điểm c Khoản này;
b) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với xây dựng nhà ở riêng lẻ ở đô thị;
c) Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với xây dựng công trình thuộc trường hợp phải lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình hoặc lập dự án đầu tư xây dựng công trình".
Như vậy, nhà ông H sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định nêu trên.
- Về xử lý bồi thường thiệt hại.
Tại khoản 1 Điều 15 Nghị định số 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật xây dựng về xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị (sau đây gọi là Nghị định số 180/2007/NĐ-CP) quy định về xử lý công trình xây dựng ảnh hưởng đến chất lượng công trình lân cận; ảnh hưởng đến môi trường, cộng đồng dân cư như sau:
"1. Trường hợp công trình xây dựng gây lún, nứt, thấm, dột hoặc có nguy cơ làm sụp đổ các công trình lân cận thì phải ngừng thi công xây dựng để thực hiện bồi thường thiệt hại:
a) Việc bồi thường thiệt hại do chủ đầu tư và bên bị thiệt hại tự thỏa thuận; trường hợp các bên không thoả thuận được thì bên thiệt hại có quyền khởi kiện đòi bồi thường tại toà án;
b) Công trình chỉ được phép tiếp tục thi công xây dựng khi các bên đạt được thỏa thuận việc bồi thường thiệt hại".
Điều 3 Thông tư số 02/2014/TT-BXD ngày 12/02/2014 của Bộ Xây dựng quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở hướng dẫn cách thức giải quyết bồi thường thiệt hại cụ thể với trường hợp này như sau:
"1. Tổ chức, cá nhân có hành vi tổ chức thi công xây dựng vi phạm quy định về xây dựng gây lún, nứt, hư hỏng công trình lân cận (bao gồm cả công trình hạ tầng kỹ thuật); có nguy cơ làm sụp đổ hoặc gây sụp đổ công trình lân cận thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Khoản 2, Khoản 4 Điều 13; Khoản 2, Khoản 5 Điều 27 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP, đồng thời bị ngừng thi công xây dựng để bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 180/2007/NĐ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ theo trình tự, thủ tục như sau:
a) Sau khi biên bản vi phạm hành chính được lập, nếu bên vi phạm và bên bị thiệt hại không tự thỏa thuận được và một bên có đơn yêu cầu thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã chủ trì việc thỏa thuận mức bồi thường thiệt hại giữa bên vi phạm và bên bị thiệt hại. Hết thời hạn 07 ngày kể từ ngày thỏa thuận lần đầu không thành hoặc bên bị thiệt hại vắng mặt tại buổi thỏa thuận lần đầu mà không có lý do chính đáng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức thỏa thuận lần hai. Tại buổi thỏa thuận lần hai mà bên bị thiệt hại tiếp tục vắng mặt không có lý do chính đáng thì bên vi phạm được tiếp tục thi công xây dựng sau khi chuyển khoản tiền tương đương mức thiệt hại gây ra vào tài khoản bảo lãnh tại ngân hàng. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định mức tiền bảo lãnh căn cứ vào yêu cầu của bên bị thiệt hại, có xem xét đến đề nghị, giải trình của bên vi phạm;
b) Trường hợp thỏa thuận lần hai không thành, hai bên thống nhất mời một tổ chức độc lập, có tư cách pháp nhân để xác định mức độ thiệt hại làm cơ sở bồi thường. Trong thời hạn 07 ngày mà hai bên không thống nhất được việc mời tổ chức để giám định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định mời một tổ chức để giám định, chi phí do bên vi phạm chi trả;
c) Trong thời hạn 07 ngày mà một trong các bên không thống nhất với kết quả do tổ chức giám định đưa ra, bên đó có quyền mời một tổ chức khác và tự chi trả chi phí. Kết quả giám định này là căn cứ để xác định mức bồi thường. Trường hợp bên còn lại không thống nhất với kết quả lần hai, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định mức bồi thường theo mức trung bình của kết quả giám định lần 1 và kết quả giám định lần 2;
d) Sau 30 ngày mà tổ chức giám định không cung cấp kết quả giám định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định sử dụng kết quả giám định ban đầu làm cơ sở xác định bồi thường thiệt hại. Bên gây thiệt hại có trách nhiệm mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng và chuyển đầy đủ số tiền bồi thường theo kết quả giám định vào tài khoản đó. Sau khi bên gây thiệt hại đã chuyển đủ số tiền vào tài khoản tại ngân hàng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định cho phép tiếp tục thi công xây dựng công trình.
2. Trường hợp bên bị thiệt hại không thống nhất với mức bồi thường thì có quyền khởi kiện tại Tòa án.
3. Trường hợp bên gây thiệt hại không bị xử phạt vi phạm hành chính thì vẫn áp dụng quy định tại các Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d và Điểm đ Khoản 1 Điều này để giải quyết việc bồi thường thiệt hại.
4. Trường hợp công trình xây dựng có nguy cơ sụp đổ hoặc gây sụp đổ công trình lân cận thì Chủ đầu tư có trách nhiệm hỗ trợ tiền di chuyển và thuê chỗ ở tạm thời cho bên bị thiệt hại trong thời gian giải quyết".
3. Gia đình ông X và gia đình ông H cùng chung một ngõ rộng 3,5m. Hiện nay ông H đang xây nhà trên toàn bộ diện tích đất được cấp, bắt đầu xây tầng hai họ làm một ban công nhô ra chiếm khoảng không của ngõ đi với chiều rộng 0,9m, dài 2,5m. Ông X đã nhắc nhở nhưng ông H cho rằng luật cho phép xây ban công cách mặt đất 3,5m. Ông H nói thế có đúng không?
Trả lời:
Để biết quyền của mình trong việc sử dụng khoảng không chung, trước hết phải nắm được các quy định về chỉ giới đường đỏ và chỉ giới xây dựng: Chỉ giới đường đỏ là ranh giới phân định giữa phần lô đất để xây dựng và phần đất được dành cho đường giao thông; Chỉ giới xây dựng là đường giới hạn cho phép xây dựng nhà, công trình trên lô đất.
Trong khoảng không từ mặt đất lên tới độ cao 3,5m thì Trong khoảng không từ mặt vỉa hè lên tới độ cao 3,5m, mọi bộ phận của nhà đều không được nhô quá chỉ giới đường đỏ, trừ các trường hợp dưới đây:
- Đường ống đứng thoát nước mưa ở mặt ngoài nhà: được phép vượt qua đường đỏ không quá 0,2m và phải đảm bảo mỹ quan;
- Từ độ cao 1m (tính từ mặt vỉa hè) trở lên, các bậu cửa, gờ chỉ, bộ phận trang trí được phép vượt đường đỏ không quá 0,2m.
Từ độ cao 3,5m tính từ mặt đất trở lên, ban công, mái đua, ô văng… được phép vượt quá chỉ giới đường đỏ nhưng phải đảm bảo điều kiện sau: nếu chiều rộng lộ giới từ dưới 7m thì độ vươn ra tối đa là 0m; từ 7m đến 12m được vươn ra đối đa 0,9m; Từ trên 12m đến 15m được phép vươn ra 1,2m và trên 15m trở lên độ vươn ra tối đa là 1,4m. Như vậy, với chiều rộng của ngõ đi chung có 2,5m thì nhà ông H không được phép xây dựng ban công nhô ra quá chỉ giới xây dựng (chỉ được xây dựng trong khuôn viên đất được cấp).
4. Theo như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) của gia đình ông C thì đường ranh giới giữa đất nhà ông C và gia đình ông T ở kế bên là một đường thẳng. Hai bên đã thỏa thuận mỗi bên xây 1 nửa tường rào (tính theo chiều dài đường ranh giới). Ông C đã xây xong phần của mình theo thỏa thuận. Gia đình ông T tiến hành xây một nửa tường rào còn lại nhưng lại xây theo đường gấp khúc và lấn sang bên phía đất gia đình ông C khoảng 40cm. Tuy ông C có góp ý nhưng ông T lại nói là đất đó là của mình và vẫn tiến hành xây tường rào. Xin hỏi việc làm của ông T có vi phạm pháp luật không ?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 176 Bộ luật dân sự năm 2015, việc thỏa thuận xây dựng này là hợp pháp.
“1. Chủ sở hữu bất động sản chỉ được dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mình.
2. Các chủ sở hữu bất động sản liền kề có thể thỏa thuận với nhau về việc dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên ranh giới để làm mốc giới ngăn cách giữa các bất động sản; những vật mốc giới này là sở hữu chung của các chủ thể đó.
Trường hợp mốc giới ngăn cách chỉ do một bên tạo nên trên ranh giới và được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý thì mốc giới ngăn cách đó là sở hữu chung, chi phí để xây dựng do bên tạo nên chịu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; nếu chủ sở hữu bất động sản liền kề không đồng ý mà có lý do chính đáng thì chủ sở hữu đã dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn phải dỡ bỏ.
3. Đối với mốc giới là tường nhà chung, chủ sở hữu bất động sản liền kề không được trổ cửa sổ, lỗ thông khí hoặc đục tường để đặt kết cấu xây dựng, trừ trường hợp được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý.
Trường hợp nhà xây riêng biệt nhưng tường sát liền nhau thì chủ sở hữu cũng chỉ được đục tường, đặt kết cấu xây dựng đến giới hạn ngăn cách tường của mình.
Đối với cây là mốc giới chung, các bên đều có nghĩa vụ bảo vệ; hoa lợi thu được từ cây được chia đều, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
Tuy nhiên, việc gia đình ông T xây tường rào theo đường gấp khúc và lấn sang đất nhà ông C 40 cm là vi phạm quy định pháp luật về nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng theo Điều 174 Bộ luật dân sự 2015; vi phạm quy định tại Điều 12, Điều 206 Luật đất đai 2013.
5. Nhà ông H xây dựng 4 tầng, tầng 1 xây dựng đúng với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), từ tầng 2 đến tầng 4 xây dựng lấn chiếm không gian 0,8m x 5m (bề ngang) x 13m (chiều cao) tới đường liên thôn, làm ảnh hưởng tới không gian khu dân cư và hành lang đường điện. Hỏi, việc xây dựng như thế có vi phạm pháp luật không?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 175 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác.”
Điều 174 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“Khi xây dựng công trình, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải tuân theo pháp luật về xây dựng, bảo đảm an toàn, không được xây vượt quá độ cao, khoảng cách mà pháp luật về xây dựng quy định và không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản là bất động sản liền kề và xung quanh.”
Tại khoản 1 Điều 12 Luật Đất đai năm 2013 cũng quy định hành vi lấn, chiếm đất đai là hành vi bị nghiêm cấm.
Như vậy, việc xây nhà lấn chiếm không gian 0,8m x 5m (bề ngang) x 13m (chiều cao) của đường liên thôn, làm ảnh hưởng tới không gian khu dân cư và hành lang đường điện của gia đình trong trường hợp bạn nêu đã vi phạm quy định của pháp luật. Gia đình xây dựng nhà lấn, chiếm diện tích đường liên thôn trong trường hợp này có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất ở và buộc khôi phục lại tình trạng như trước khi vi phạm theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Các hộ gia đình trong khu dân cư có quyền yếu cầu UBND xã, phường, thị trấn (UBND cấp xã) xem xét, giải quyết. Sau khi nhận ý kiến phản ánh của các hộ dân, Chủ tịch UBND cấp xã ra quyết định thành lập tổ kiểm tra để kiểm tra việc xây dựng nhà; lập biên bản vi phạm. Trường hợp không thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp xã thì chuyển vụ việc đến Chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết.
C. VĂN BẢN PHÁP LUẬT
1. Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014
2. Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 về quản lý chi phí đầu tư xây dựng, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/5/2015
3. Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/6/2015
4. Nghị định số 44/2015/NĐ-CP ngày 6/5/2015 quy đinh chi tiết một số nội dung về quy hoạch xây dựng, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/6/2015;
5. Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2015;
6. Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 về quản lý dự án đầu tư xây dựng, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/8/2015;
7. Các văn bản pháp luật khác có liên quan.
Phần thứ ba. Lĩnh vực pháp luật bảo vệ môi trường
- KIẾN THỨC PHÁP LUẬT
Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật. Môi trường được tạo thành từ các yếu tố khác nhau, gọi là thành phần môi trường, gồm: đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác.
Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành.
Lợi ích về môi trường là lợi ích chung của cả cộng đồng và có tính đặc thù đối với từng nhóm hoạt động sản xuất kinh doanh. Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của các ngành, các cấp, là quyền và nghĩa vụ của toàn dân.
- NHỮNG HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐƯỢC KHUYẾN KHÍCH
Để nâng cao nhận thức, khuyến khích các hoạt động tích cực trong bảo vệ môi trường, Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định về những hoạt động bảo vệ môi trường được khuyến khích bao gồm:
- Truyền thông, giáo dục và vận động mọi người tham gia bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học. Việc truyền, thông giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi trường… có vai trò đặc biệt quan trọng thúc đẩy các tổ chức, cá nhân tự giác thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường.
- Bảo vệ, sử dụnghợp lývà tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Hoạt động này góp phần quan trọng trong phát triển bền vững[16], bảo đảm kết hợp hài hòa giữa các lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường, giữa thế hệ hiện tại và thế hệ tương lai.
- Giảm thiểu, thu gom, tái sử dụng và tái chế chất thải. Chất thải là một trong những nguồn chủ yếu gây nên ô nhiễm môi trường. Các tổ chức cá nhân tự giác, tích cực giảm thiểu, thu gom, tái sử dụng và tái chế chất thải một cách hợp lý sẽ có tác dụng lớn trong việc bảo vệ môi trường.
- Hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu; phát triển, sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; giảm thiểu phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, phá hủy tầng ô-dôn. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nghiên trọng của biến đổi khí hậu nên thực hiện những hoạt động ứng phó thích nghi với biến đổi khí hậu sẽ góp phần tích cực bảo vệ chính cuộc sống của con người trước những tác động xấu của môi trường.
- Đăng ký cơ sở, sản phẩm thân thiện với môi trường; sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng sản phẩm thân thiện với môi trường. Hoạt động này giúp cho con người vừa được hưởng lợi ích tương xứng với các hoạt động sản xuất kinh doanh tiêu dùng, vừa bảo vệ được môi trường ở mức độ cao hơn nên đây là một hoạt động cần được triển khai mạnh trong thời gian tới.
- Nghiên cứu khoa học, chuyển giao, ứng dụng công nghệ xử lý, tái chế chất thải, công nghệ thân thiện với môi trường. Hoạt động này là hết sức quan trọng, giúp con người có thể ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại nhằm bảo vệ môi trường đạt hiệu quả cao nhất.
- Đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất thiết bị, dụng cụ bảo vệ môi trường; cung cấp dịch vụ bảo vệ môi trường; thực hiện kiểm toán môi trường; tín dụng xanh; đầu tư xanh. Những giải pháp này không chỉ góp phần kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường mà còn thực hiện minh bạch các chỉ số môi trường, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội hiện đại.
- Bảo tồn và phát triển nguồn gen bản địa; lai tạo, nhập nội các nguồn gen có giá trị kinh tế và có lợi cho môi trường. Đây là hoạt động góp phần quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học cũng như phát triển các hoạt động kinh doanh mới gắn liền với bảo vệ môi trường (du lịch sinh thái, kinh doanh vật nuôi, cây trồng đặc hữu…).
- Xây dựng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, khu dân cư thân thiện với môi trường. Đây là một nét văn hóa cần được phát huy để bảo vệ môi trường nói chung, tạo nên các làng bản, phum, sóc, ngày càng văn minh sạch, đẹp.
- Phát triển các hình thức tự quản và tổ chức hoạt động dịch vụ giữ gìn vệ sinh môi trường của cộng đồng dân cư để phát huy được sức mạnh của cộng đồng bảo đảm xã hội hóa trong lĩnh vực môi trường, nâng cao đáng kể hiệu quả công tác bảo vệ môi trường.
- Hình thành nếp sống, thói quen giữ gìn vệ sinh môi trường, xóa bỏ hủ tục gây hại đến môi trường để tạo nên một lối sống văn minh, hiện đại vừa bảo vệ môi trường, vừa nâng cao giá trị văn hóa.
- Đóng góp kiến thức, công sức, tài chính cho hoạt động bảo vệ môi trường; thực hiện, hợp táccông tư về bảo vệ môi trường. Đây là việc làm để huy động được mọi nguồn lực xã hội nhằm chung tay bảo vệ môi trường.
II. NHỮNG HÀNH VI BỊ NGHIÊM CẤM
Hiện nay, môi trường nước ta tiếp tục bị xuống cấp nhanh, đã đến mức báo động: đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồn nước suy giảm mạnh; không khí ở nhiều khu đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng; khối lượng và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức; đa dạng sinh học bị suy giảm nghiêm trọng; điều kiện vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch nhiều nơi chưa được bảo đảm… Do vậy, để bảo vệ môi trường, Luật bảo vệ môi trường năm 2014 nghiêm cấm các hành vi sau đây:
- Phá hoại, khai thác trái phép nguồn tài nguyên thiên nhiên.
- Khai thác nguồn tài nguyên sinh vật bằng phương tiện, công cụ, phương pháp hủy diệt, không đúng thời vụ và sản lượng theo quy định của pháp luật.
- Khai thác, kinh doanh, tiêu thụ các loài thực vật, động vật hoang dã thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.
- Vận chuyển, chôn lấp chất độc, chất phóng xạ, chất thải và chất nguy hại khác không đúng quy trình kỹ thuật về bảo vệ môi trường.
- Thải chất thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước và không khí.
- Đưa vào nguồn nước hóa chất độc hại, chất thải, vi sinh vật chưa được kiểm định và tác nhân độc hại khác đối với con người và sinh vật.
- Thải khói, bụi, khí có chất hoặc mùi độc hại vào không khí; phát tán bức xạ, phóng xạ, các chất ion hóa vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường.
- Gây tiếng ồn, độ rung vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường.
- Nhập khẩu, quá cảnh chất thải từ nước ngoài dưới mọi hình thức.
- Nhập khẩu, quá cảnh động vật, thực vật chưa qua kiểm dịch; vi sinh vật ngoài danh mục cho phép.
- Sản xuất, kinh doanh sản phẩm gây nguy hại cho con người, sinh vật và hệ sinh thái; sản xuất, sử dụng nguyên liệu, vật liệu xây dựng chứa yếu tố độc hại vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường.
- Phá hoại, xâm chiếm trái phép di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên.
- Xâm hại công trình, thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động bảo vệ môi trường.
- Hoạt động trái phép, sinh sống ở khu vực được cơ quan nhà nước cóthẩm quyềnxác định là khu vực cấm do mức độ đặc biệt nguy hiểm về môi trường đối với con người.
- Che giấu hành vi hủy hoại môi trường, cản trở hoạt động bảo vệ môi trường, làm sai lệch thông tin dẫn đến gây hậu quả xấu đối với môi trường.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vượt quá quyền hạn hoặc thiếu trách nhiệm của người có thẩm quyền để làm trái quy định về quản lý môi trường.
Bên cạnh những hành vi trên thì còn có những hành vi khác có thể gây tổn hại trực tiếp tới môi trường trong quá trình khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Những hành vi này cũng được pháp luật quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật Tài nguyên nước năm 2012 (Điều 9), Luật Khoáng sản năm 2010 (Điều 8), Luật Bảo vệ phát triển rừng năm 2004 (Điều 12), Luật Thủy sản năm 2003 (Điều 6), Luật Đa dạng sinh học năm 2008 (Điều 7)…
III. MỘT SỐ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỤ THỂ CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN, CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG
1. Các quyền trong lĩnh vực môi trường
a) Quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về môi trường
Theo quy định tại Điều 162 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 thì tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, khởi kiện về hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật. Cá nhân có quyền tố cáo vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường với cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố cáo. Thời hiệu khởi kiện về môi trường được tính từ thời điểm tổ chức, cá nhân bị thiệt hại phát hiện được thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật về môi trường của tổ chức, cá nhân khác. Thực hiện tốt quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về môi trường sẽ bảo đảm các quyền, lợi ích chính đáng về môi trường của mọi tổ chức, cá nhân, đồng thời ngăn chặn, hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật môi trường, gây ảnh hưởng xấu tới môi trường. Quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về môi trường được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện trong nhiều văn bản khác nhau như Luật khiếu nại, Luật tố cáo, Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự…
b) Quyền được đối thoại môi trường của cộng đồng dân cư
Điều 146 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định, đại diện cộng đồng dân cư trên địa bàn chịu tác động môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có quyền yêu cầu chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ cung cấp thông tin về bảo vệ môi trường thông qua đối thoại trực tiếp hoặc bằng văn bản; tổ chức tìm hiểu thực tế về công tác bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; thu thập, cung cấp thông tin cho cơ quan có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về thông tin cung cấp. Đại diện cộng đồng dân cư trên địa bàn chịu tác động môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có liên quan cung cấp kết quả thanh tra, kiểm tra, xử lý đối với cơ sở; tham gia đánh giá kết quả bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; thực hiện các biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích của cộng đồng dân cư theo quy định của pháp luật. Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải thực hiện các yêu cầu của đại diện cộng đồng dân cư theo các nội dung trên.
Thực hiện quyền này sẽ góp phần bảo đảm dân chủ cơ sở, bảo vệ những quyền, lợi ích hợp pháp về môi trường của người lao động, cộng đồng dân cư, tổ chức cá nhân liên quan, nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp trong thực hiện những giải pháp bảo vệ môi trường phù hợp, bảo đảm không gây ảnh hưởng xấu tới quyền, lợi ích hợp pháp của người dân địa phương. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền này phải bảo đảm tuân theo một trật tự nhất định, tránh biến cuộc đối thoại môi trường thành những cuộc tụ tập đông người mang tính tự phát, nảy sinh các mâu thuẫn không đáng có. Giữa các bên đối thoại phải có sự thống nhất về nội dung đối thoại, thời gian, địa điểm đối thoại, người đại diện đối thoại… và đặc biệt phải có sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
c) Quyền được tham vấn trong quá trình đánh giá tác động môi trường của dự án đầu tư
Tham vấn trong quá trình thực hiện đánh giá tác động môi trường[17] nhằm hoàn thiện báo cáo đánh giá tác động môi trường, hạn chế thấp nhất các tác động xấu đến môi trường và con người, bảo đảm sự phát triển bền vững của dự án.
Điều 21 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định, chủ dự án phải tổ chức tham vấn cơ quan, tổ chức, cộng đồng chịu tác động trực tiếp bởi dự án. Thực chất của quyền này là việc cộng đồng dân cư, các tổ chức, cá nhân tại nơi thực hiện dự án đầu tư có quyền được biết các thông tin liên quan đến môi trường của dự án đầu tư thông qua việc chủ đầu tư phải tổ chức thông báo, xin ý kiến của cộng đồng dân cư và các tổ chức cá nhân về vấn đề ảnh hưởng tới môi trường cũng như giải pháp bảo vệ môi trường của chủ dự án, qua đó nhằm hạn chế tới mức thấp nhất các tác động xấu tới môi trường và bảo vệ quyền lợi của cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân liên quan một cách hiệu quả nhất.
d) Quyền được cung cấp thông tin môi trường thông qua hoạt động công khai thông tin môi trường của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các tổ chức liên quan
Tại Điều 131 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định thông tin môi trường phải được công khai gồm:
- Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;
- Thông tin về nguồn thải, chất thải, xử lý chất thải;
- Khu vực môi trường bị ô nhiễm, suy thoái ở mức nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, khu vực có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường;
- Các báo cáo về môi trường;
- Kết quả thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường.
Các thông tin môi trường nêu trên mà thuộc danh mục bí mật nhà nước thì không được công khai.
Cơ quan công khai thông tin môi trường chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của thông tin.
Việc thực hiện quyền nêu trên bảo đảm cho các tổ chức, cá nhân liên quan có được thông tin cần thiết về giải pháp bảo vệ môi trường trong hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, mặt khác nắm được tình hình, diễn biến của các sự cố môi trường cũng như tình hình quản lý Nhà nước trong lĩnh vực môi trường. Những thông tin thu thập được sẽ giúp tổ chức, cá nhân chủ động thực hiện các giải pháp bảo vệ quyền lợi của mình một cách hiệu quả nhất, đồng thời có thể giám sát, đóng góp ý kiến cho công tác quản lý nhà nước về môi trường được hiệu quả hơn.
đ) Quyền được khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Các tổ chức, cá nhân trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như sinh hoạt, tùy theo tính chất, quy mô, mức độ hoạt động mà được phép khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên với quy mô khác nhau và phải đồng thời thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách phù hợp để bảo đảm phát triển bền vững.
Quyền được khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên được pháp luật quy định ở các điều 35, 36, 37, 38 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 và trong các đạo luật chuyên ngành về quản lý tài nguyên thiên nhiên như Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật đa dạng sinh học năm 2008, Luật khoáng sản năm 2010, Luật tài nguyên nước năm 2012... Tài nguyên thiên nhiên là một bộ phận không thể thiếu trong đời sống con người, là thành phần môi trường quan trọng cung cấp chủ yếu nguyên liệu, nhiên liệu cho mọi hoạt động phát triển kinh tế, xã hội cũng như sinh hoạt của con người. Việc pháp luật quy định bảo đảm cho các tổ chức, cá nhân được khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên là tất yếu và hết sức cần thiết bởi lẽ đây là một quyền gắn liền với đời sống con người, nếu quyền này không được bảo đảm thì con người không thể tồn tại, xã hội không thể phát triển. Tuy nhiên, khi thực hiện quyền này cần phải gắn liền với nghĩa vụ bảo vệ, phát triển các nguồn tài nguyên một cách hợp lý để cân bằng giữa các lợi ích kinh tế với lợi ích môi trường, góp phần phát triển bền vững.
2. Nghĩa vụ bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân trong một số lĩnh vực hoạt động cụ thể:
a) Bảo vệ môi trường đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường sau:
- Thu gom, xử lý nước thải bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường;
- Thu gom, phân loại, lưu giữ, xử lý, thải bỏ chất thải rắn theo quy định của pháp luật;
- Giảm thiểu, thu gom, xử lý bụi, khí thải theo quy định của pháp luật; bảo đảm không để rò rỉ, phát tán khí độc hại ra môi trường; hạn chế tiếng ồn, độ rung, phát sáng, phát nhiệt gây ảnh hưởng xấu đối với môi trường xung quanh và người lao động;
- Bảo đảm nguồn lực, trang thiết bị đáp ứng khả năng phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường;
- Xây dựng và thực hiện phương án bảo vệ môi trường.
- Đối với cơ sở sản xuất hoặc kho tàng thuộc các trường hợp có chất dễ cháy, dễ nổ; có chất phóng xạ hoặc bức xạ mạnh; có chất độc hại đối với người và sinh vật; phát tán bụi, mùi, tiếng ồn ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người; gây ô nhiễm nguồn nước, thì phải có khoảng cách bảo đảm không có tác động xấu đối với khu dân cư:
- Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có phát sinh lượng chất thải lớn, nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường phải có bộ phận chuyên môn hoặc nhân sự phụ trách về bảo vệ môi trường; phải được xác nhận hệ thống quản lý môi trường theo quy định của Chính phủ.
b) Bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp
Hoạt động sản xuất nông nghiệp với việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, các loại thuốc kích thích tăng trưởng, chăn nuôi gia súc, gia cầm có thể dẫn tới gây ô nhiễm môi trường, mất an toàn vệ sinh thực phẩm, gây hậu quả xấu đến đời sống con người. Nghĩa vụ bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất nông nghiệp được quy định tại Điều 69 Luật bảo vệ môi trường năm 2014.
Phân bón, sản phẩm xử lý môi trường chăn nuôi đã hết hạn sử dụng; dụng cụ, bao bì đựng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y sau khi sử dụng phải được xử lý theo quy định về quản lý chất thải.
Khu chăn nuôi tập trung phải có phương án bảo vệ môi trường và đáp ứng yêu cầu sau:
- Bảo đảm vệ sinh môi trường đối với khu dân cư;
- Thu gom, xử lý nước thải, chất thải rắn theo quy định về quản lý chất thải;
- Chuồng, trại phải được vệ sinh định kỳ; bảo đảm phòng ngừa, ứng phó dịch bệnh;
- Xác vật nuôi bị chết do dịch bệnh phải được quản lý theo quy định về quản lý chất thải nguy hại và vệ sinh phòng bệnh.
Những nội dung liên quan đến bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp còn được quy định chi tiết, cụ thể trong Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2015, Luật Thú y năm 2015.
c) Bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản
Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh thuốc thú y thủy sản, hóa chất trong nuôi trồng thủy sản phải thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và quy định của pháp luật có liên quan.
Không được sử dụng thuốc thú y thủy sản, hóa chất đã hết hạn sử dụng hoặc ngoài danh mục cho phép trong nuôi trồng thủy sản.
Thuốc thú y thủy sản, hóa chất dùng trong nuôi trồng thủy sản đã hết hạn sử dụng; bao bì đựng thuốc thú y thủy sản, hóa chất dùng trong nuôi trồng thủy sản sau khi sử dụng; bùn đất và thức ăn lắng đọng khi làm vệ sinh trong ao nuôi thủy sản phải được thu gom, xử lý theo quy định về quản lý chất thải.
Khu nuôi trồng thủy sản tập trung phải phù hợp với quy hoạch và đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường sau:
- Chất thải phải được thu gom, xử lý theo quy định của pháp luật;
- Phục hồi môi trường sau khi ngừng hoạt động nuôi trồng thủy sản;
- Bảo đảm điều kiện vệ sinh môi trường, phòng ngừa dịch bệnh thủy sản; không được sử dụng hóa chất độc hại hoặc tích tụ độc hại.
d) Bảo vệ môi trường làng nghề
Làng nghề phải đáp ứng điều kiện về bảo vệ môi trường sau: Có phương án bảo vệ môi trường làng nghề; có kết cấu hạ tầng bảo đảm thu gom, phân loại, lưu giữ, xử lý, thải bỏ chất thải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; có tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường.
Cơ sở sản xuất thuộc ngành nghề được khuyến khích phát triển tại làng nghề phải đáp ứng các yêu cầu sau: Xây dựng và thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật; thực hiện các biện pháp giảm thiểu tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bụi, nhiệt, khí thải, nước thải và xử lý ô nhiễm tại chỗ; thu gom, phân loại, lưu giữ, xử lý chất thải rắn theo quy định của pháp luật, tuân thủ kế hoạch di dời, chuyển đổi ngành nghề sản xuất theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
đ) Bảo vệ môi trường trong hoạt động xây dựng
Pháp luật quy định quy hoạch xây dựng phải tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường. Trong thiết kế xây dựng và dự toán của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có phát sinh chất thải tác động xấu đến môi trường phải có hạng mục công trình xử lý chất thải theo quy định của pháp luật.
Việc thi công công trình xây dựng phải bảo đảm các yêu cầu bảo vệ môi trường như:
- Công trình xây dựng trong khu dân cư phải có biện pháp bảo đảm không phát tán bụi, nhiệt, tiếng ồn, độ rung, ánh sáng vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường;
- Việc vận chuyển vật liệu xây dựng phải được thực hiện bằng phương tiện bảo đảm yêu cầu kỹ thuật, không làm rò rỉ, rơi vãi, gây ô nhiễm môi trường;
- Nước thải, chất thải rắn và các loại chất thải khác phải được thu gom, xử lý bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường.
e) Bảo vệ môi trường trong hoạt động lễ hội, du lịch
Tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác khu di tích, điểm di tích, khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở lưu trú phải thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường sau:
- Niêm yết quy định về bảo vệ môi trường tại khu di tích, điểm di tích, khu du lịch, điểm du lịch và hướng dẫn thực hiện;
- Lắp đặt, bố trí đủ và hợp lý công trình vệ sinh, thiết bị thu gom chất thải;
- Bố trí nhân lực làm vệ sinh môi trường.
Cá nhân đến khu di tích, điểm di tích, khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở lưu trú và lễ hội thực hiện các quy định sau:
- Tuân thủ nội quy, hướng dẫn về bảo vệ môi trường của khu di tích, điểm di tích, khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở lưu trú;
- Bỏ chất thải đúng nơi quy định;
- Giữ gìn vệ sinh công cộng;
- Không xâm hại cảnh quan di tích, các loài sinh vật tại khu di tích, điểm di tích, khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở lưu trú.
h) Bảo vệ môi trường đối với hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y
Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh, sử dụng, vận chuyển, lưu giữ, chuyển giao và xử lý hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y phải thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và quy định của pháp luật có liên quan.
Hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y có độc tính cao, bền vững, lan truyền, tích tụ trong môi trường, tác động xấu tới môi trường và sức khỏe con người phải được đăng ký, kiểm kê, kiểm soát, quản lý thông tin, đánh giá, quản lý rủi ro và xử lý theo quy định của pháp luật.
i) Bảo vệ môi trường nơi công cộng
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng. Nhiều đô thị mới, khu dân cư ra đời đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Song bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm môi trường ở đô thị và khu dân cư; các nơi công cộng diễn ra phổ biến, nhiều nơi ở mức báo động… Do vậy, các hoạt động bảo vệ môi trường nơi công cộng được quy định tại Điều 81 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.
Theo đó, cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường và giữ gìn vệ sinh nơi công cộng; phân loại, chuyển rác thải vào thùng chứa rác công cộng hoặc đúng nơi quy định tập trung rác thải; không để vật nuôi gây mất vệ sinh nơi công cộng.
Tổ chức, cá nhân quản lý công viên, khu vui chơi, giải trí, khu du lịch, chợ, nhà ga, bến xe, bến tàu, bến cảng, bến phà và khu vực công cộng khác có trách nhiệm sau:
- Bố trí nhân lực thu gom chất thải, làm vệ sinh môi trường trong phạm vi quản lý;
- Bố trí công trình vệ sinh công cộng; phương tiện, thiết bị thu gom chất thải đáp ứng nhu cầu giữ gìn vệ sinh môi trường;
- Niêm yết quy định về giữ gìn vệ sinh nơi công cộng.
k) Bảo vệ môi trường đối với hộ gia đình
Hộ gia đình có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu bảo vệ môi trường sau:
- Giảm thiểu, phân loại tại nguồn, thu gom và chuyển rác thải sinh hoạt đến đúng nơi quy định.
- Giảm thiểu, xử lý và xả nước thải sinh hoạt đúng nơi quy định.
- Không được phát tán khí thải, gây tiếng ồn, độ rung và tác động khác vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến cộng đồng dân cư xung quanh.
- Nộp đủ và đúng thời hạn phí bảo vệ môi trường; chi trả cho dịch vụ thu gom, xử lý chất thải theo quy định của pháp luật;
- Tham gia hoạt động bảo vệ môi trường công cộng và tại khu dân cư.
- Có công trình vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm bảo đảm vệ sinh, an toàn.
Thực hiện tốt các quy định về bảo vệ môi trường là một trong những tiêu chí gia đình văn hóa.
IV. XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG
Vi phạm pháp luật môi trường là hành vi trái pháp luật, do các chủ thể có năng lực chủ thể thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại các quan hệ pháp luật môi trường, thường gây ra hậu quả ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường và các thiệt hại khác về tính mạng, sức khỏe, tài sản… của con người.
Tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật môi trường mà người vi phạm sẽ bị xử lý bằng các loại trách nhiệm pháp lý khác nhau như: trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự…
1. Trách nhiệm hành chính
Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực môi trường được áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính về môi trường. Hiện nay các hành vi vi phạm hành chính về môi trường ở Việt Nam bị xử phạt theo Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (sau đây gọi tắt là Nghị định số 179/2013/NĐ-CP). Ngoài ra, các hành vi vi phạm hành chính về môi trường trong các lĩnh vực cụ thể liên quan đến việc khai thác, sử dụng, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên còn bị xử phạt hành chính theo các văn bản chuyên ngành như Nghị định số 142/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản, Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ, phát triển rừng, quản lý lâm sản, Nghị định số 40/2015/NĐ-CP ngày 27/4/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
2. Trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự được áp dụng với các cá nhân có vi phạm hình sự trong lĩnh vực môi trường (tội phạm môi trường), được quy định cụ thể trong các điều từ Điều 235 đến Điều 246 Bộ luật hình sự năm 2015.
Theo đó, tội phạm môi trường bao gồm: Tội gây ô nhiễm môi trường; Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại; Tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường; Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông; Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam; Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người; Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật; Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản; Tội huỷ hoại rừng; Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm; Tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên; Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại.
3. Trách nhiệm dân sự
Trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực môi trường là việc người có hành vi vi phạm pháp luật môi trường, người gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường làm thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe của con người hoặc gây suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường thì phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại.
Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự, tố tụng dân sự và bảo vệ môi trường…[18]
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường phát sinh khi có các điều kiện sau đây:
a. Có thiệt hại xảy ra
Không phải bất cứ hành vi vi phạm pháp luật môi trường nào cũng phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, chỉ khi hậu quả của hành vi biểu hiện trên thực tế, gây hại đến hệ sinh thái, yếu tố môi trường và chủ thể khác thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại mới phát sinh.
Thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường gồm:
- Suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường;
- Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra.
b. Hành vi gây thiệt hại là hành vi vi phạm quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, không phải mọi hành vi gây thiệt hại cho môi trường đều là hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Thiệt hại đối với môi trường có thể là do sự kiện bất khả kháng (thiên tai, dịch bệnh…) .
c. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra:
Thiệt hại thực tế xảy ra là kết quả của hành vi vi phạm pháp luật hay nói một cách khác, hành vi vi phạm pháp luật là nguyên nhân của thiệt hại xảy ra. Nhưng đối với các vụ việc bồi thường thiệt hại về môi trường thì việc xác định mối quan hệ trên không hề đơn giản. Một thiệt hại về môi trường có thể do hành vi gây ô nhiễm, suy thoái hoặc do yếu tố thiên nhiên. Nếu hai yếu tố này xảy ra đồng thời thì rất khó để xác định thiệt hại nào là do hành vi gây tổn hại đến môi trường. Hoặc trường hợp các hành vi gây thiệt hại tới môi trường đã xảy ra từ rất lâu, đến thời điểm thu thập chứng cứ thì thiệt hại không còn nghiêm trọng như mức độ ban đầu nên việc xác định nguyên nhân này ra là rất khó. Hoặc trường hợp một hành vi gây ra nhiều loại thiệt hại khác nhau và ở mức độ khác nhau. Đặc diểm nay về mặt lý luận đặt ra yêu cầu: Trong xác định thiệt hại và mối quan hệ trên, các quy định của pháp luật môi trường phải kết hợp tính chất pháp lý và tính chất kĩ thuật chuyên ngành. Bên cạnh đó, trong những trường hợp khó xác định được mối quan hệ nhân quả trên thì phải tìm ra được nguyên nhân trực tiếp nhất hoặc có tính quyết định nhất đối với thiệt hại xảy ra.
Để chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi tác động xấu đến môi trường và những thiệt hại xảy ra thường phải thông qua các bước: Xác định mối quan hệ giữa hành vi vi phạm pháp luật môi trường với tình trạng ô nhiễm, suy thoái của môi trường và xác định mối quan hệ giữa ô nhiễm, suy thoái môi trường với những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của cá nhân, tổ chức.
d. Lỗi của người gây thiệt hại:
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, trách nhiệm bổi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường được loại trừ trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi. Khoản 4 Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra”. Hiểu cách khác nếu người bị thiệt hại không có lỗi thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại luôn đặt ra đối với người gây ô nhiễm môi trường gây thiệt hại. Điều này bắt nguồn từ quan điểm tôn trọng và bảo vệ triệt để lợi ích của người bị thiệt hại trước sự xâm hại của người khác. Việc xác định lỗi rất quan trọng trong trường hợp có nhiều tổ chức cá nhân cùng gây thiệt hại nhằm mục đích xác định rõ hơn trách nhiệm của người gây ô nhiễm môi trường để xác định cơ chế bồi thường thỏa đáng giữa các bên.
V. GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG
- Khái niệm, đặc điểm tranh chấp môi trường
a) Khái niệm
Tranh chấp môi trường là những mâu thuẫn, bất đồng ý kiến giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật môi trường khi một bên chủ thể cho rằng phía chủ thể kia có hành vi vi phạm pháp luật môi trường, gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường làm thiệt hại tới quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Nội dung tranh chấp về môi trường gồm:
- Tranh chấp về quyền, trách nhiệm bảo vệ môi trường trong khai thác, sử dụng thành phần môi trường;
- Tranh chấp về xác định nguyên nhân gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường;
- Tranh chấp về trách nhiệm xử lý, khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường.
Các bên tranh chấp về môi trường gồm:
- Tổ chức, cá nhân sử dụng thành phần môi trường có tranh chấp với nhau;
- Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng các thành phần môi trường và tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cải tạo, phục hồi khu vực môi trường bị ô nhiễm, suy thoái, bồi thường thiệt hại về môi trường.
Việc giải quyết tranh chấp về môi trường được thực hiện theo quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp dân sự ngoài hợp đồng và quy định của pháp luật có liên quan.
b) Một số đặc điểm của tranh chấp môi trường:
- Tranh chấp môi trường là xung đột mà trong đó lợi ích tư và lợi ích công thường gắn chặt với nhau. Đây là nét đặc trưng cơ bản nhất của tranh chấp môi trường. Đặc trưng này bắt nguồn từ chỗ lợi ích mà các bên tham gia quan hệ pháp luật môi trường hướng tới mang tính đa chiều. Khác với quan hệ pháp luật dân sự, thương mại, lao động, đất đai, hôn nhân gia đình - lợi ích mà các bên đương sự hướng tới thường có tính chất đơn nhất (một loại lợi ích - lợi ích tư). Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, các bên tham gia quan hệ, dù tham gia vì lợi ích tư nhân thì vẫn hướng tới lợi ích chung của động đồng, của xã hội. Lợi ích của cộng đồng, của xã hội mà mỗi người quan tâm là chất lượng môi trường sống chung của con người, gồm: chất lượng, không khí, chất lượng nước, đất, âm thanh, hệ sinh vật… Khi lợi ích này bị xâm hại thì yêu cầu trước tiên mà người thụ hưởng đưa ra là chất lượng môi trường sống của họ phải được phục hồi, cải thiện. Bên cạnh đó, từng cá nhân trong cộng đồng, ngoài mối quan tâm kể trên còn là những lợi ích gắn liền với tình trạng sức khỏe, tài sản của họ bị ảnh hưởng bởi chất lượng môi trường sống giảm sút. Họ yêu cầu được đền bù những tổn thất về người và tài sản mà họ phải gánh chịu. Như vậy, đặc trưng của tranh chấp môi trường là trong mỗi vụ kiện về môi trường thường có sự gắn kết hai loại lợi ích chung - riêng (công - tư).
- Tranh chấp môi trường thường xảy ra với quy mô lớn, liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân, các cộng đồng dân cư, thậm chí đến nhiều quốc gia.
Do môi trường là một thể thống nhất không thể tách rời, không bị giới hạn bởi không gian, thời gian, nên các tác động xấu đến thành phần môi trường này sẽ ảnh hưởng xấu đến thành phần môi trường khác. Các tác động đến môi trường thường diễn ra trên quy mô lớn, phạm vi ảnh hưởng rộng, liên quan trực tiếp đến điều kiện sống của nhiều người. Tương ứng phạm vi và mức độ của những tác động xấu tới môi trường là phạm vi và cấp độ của tranh chấp môi trường. Tranh chấp có thể nảy sinh trong phạm vi khu dân cư, tại một địa phương hoặc nhiều địa phương, trong phạm vi khu vực và quốc tế. Điều này có nghĩa là tranh chấp môi trường có thể nảy sinh giữa bất cứ chủ thể nào, không phụ thuộc vào cá nhân hay tổ chức, công quyền hay dân quyền, người trong nước hay người nước ngoài, quốc gia phát triển hay đang phát triển và giữa họ có hay không có quan hệ ngoại giao, quan hệ hợp đồng hay công vụ… Sự đa dạng về chủ thể tham gia tranh chấp cộng với trách nhiệm pháp lý chủ yếu phát sinh ngoài hợp đồng khiến cho tranh chấp môi trường trở nên khó kiểm soát, khó dung hòa và dễ chuyển hóa thành các xung đột có quy mô lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự xã hội và an toàn pháp lý, thậm chí cả mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia, đặc biệt là quốc gia láng giềng. Sự đa dạng về chủ thể dẫn đến việc khó xác định số lượng cụ thể các đương sự trong mỗi vụ tranh chấp môi trường. Đối với các tranh chấp trong lĩnh vực khác, số lượng các bên tham gia tranh chấp luôn được xác định và thường không quá hai hoặc ba bên. Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, việc tranh chấp liên quan đến nhiều loại lợi ích, nhiều chủ thể khác nhau, như: lợi ích của những người làm công tác bảo tồn, các nhà sản xuất kinh doanh, các cấp chính quyền, các tổ chức phi chính phủ, các cộng đồng dân cư… khiến cho tranh chấp môi trường khó định lượng về hậu quả.
- Tranh chấp môi trường có thể nảy sinh từ khi chưa có sự xâm hại thực tế đến các quyền và lợi ích hợp pháp về môi trường. Thời điểm xác định các tranh chấp môi trường nảy sinh thường sớm hơn so với thời điểm xác định nảy sinh tranh chấp khác. Trong các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động…, quyền và lợi ích mà các bên yêu cầu được bảo vệ, phục hồi là những quyền và lợi ích đã bị phía bên kia xâm hại. Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, các bên còn yêu cầu loại trừ trước khả năng xâm hại môi trường. Khả năng xâm hại đến môi trường mà con người có thể dự báo thường liên quan đến dự án đầu tư, thậm chí ngay từ khi dự án chưa đi vào hoạt động. Điều này lý giải cho việc nhiều mâu thuẫn, xung đột trong lĩnh vực môi trường đã nảy sinh ngay từ giai đoạn khi các dự án đầu tư chưa triển khai hoặc mới bắt đầu đi vào hoạt động. Vào giai đoạn này, mặc dù thiệt hại thực tế chưa xảy ra nhưng các bên xung đột cho rằng nguy cơ nội tại sẽ xảy ra thiệt hại với môi trường nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời.
2. Những nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp môi trường
Giải quyết tranh chấp môi trường là quá trình hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và các tổ chức, cá nhân liên quan theo thủ tục, trình tự nhất định nhằm khôi phục, bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan hệ tranh chấp môi trường nói riêng, bảo vệ lợi ích môi trường của cộng đồng nói chung. Giải quyết tranh chấp môi trường cần phải thực hiện theo những nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc công quyền can thiệp
Giải quyết tranh chấp môi trường không chỉ là mong muốn riêng của các bên tranh chấp mà còn là trách nhiệm của Nhà nước. Chức năng quản lý xã hội và nghĩa vụ đảm bảo phúc lợi công cộng của Nhà nước không “cho phép’’ công quyền đứng ngoài những quan hệ xã hội xung đột mang tính xã hội sâu sắc này. Nói khác đi, trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, sự can thiệp của công quyền vào việc giải quyết tranh chấp cần được xem là loại trách nhiệm công vụ hay còn gọi là công quyền đương nhiên can thiệp.
Tuy nhiên, để tránh tình trạng tuyệt đối hóa vai trò của Nhà nước, coi bảo vệ môi trường nói chung, giải quyết tranh chấp môi trường nói riêng là trách nhiệm của chỉ Nhà nước thì yêu cầu đặt ra là cần phải làm rõ mức độ (hay giới hạn) can thiệp của công quyền trong lĩnh vực này. Thực tế cho thấy, tuyệt đối hóa vai trò của Nhà nước, áp dụng một cách cứng nhắc các phương pháp quản lý hành chính như: mệnh lệnh, cưỡng chế tuân thủ… đã và đang bộc lộ nhiều bất cập mà hậu quả rõ nét nhất là triệt tiêu tính tự chủ của người dân trong việc tìm giải pháp thích hợp để bảo vệ môi trường, điều hòa xung đột. Thậm chí trong nhiều trường hợp còn đẩy người sử dụng, khai thác các thành phần môi trường vào tình trạng đối phó, trốn tránh trách nhiệm bảo vệ môi trường.
- Nguyên tắc phòng ngừa
Nguyên tắc phòng ngừa đặc biệt có ý nghĩa trong việc giải quyết những vụ kiện đòi hỏi chấm dứt các mối nguy hiểm tiềm tàng đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng từ các hoạt động phát triển, nhất là các dự án có quy mô lớn, như: dự án xây dựng nhà máy hóa chất, các công trình thủy điện, nhiệt điện, điện nguyên tử, công trình xử lý chất thải, đường giao thông… Tiền đề của nguyên tắc này là nếu có những điều không chắc chắn hoặc không rõ về bản chất hoặc mức độ, quy mô của sự nguy hại đến môi trường thì người ra quyết định cần hết sức thận trọng. Hay nói khác đi, trong trường hợp này, quan điểm phát triển bền vững cần được tôn trọng. Cần phải cân nhắc giữa “cái được, cái mất’’ (giữa chi phí và lợi ích) để các bên có thể đi đến thống nhất các phương án loại trừ hoặc hạn chế đến mức thấp nhất tác động xấu đến môi trường từ các hoạt động phát triển. Để thực hiện đầy đủ nguyên tắc phòng ngừa trong giải quyết xung đột, cần thiết phải tuân thủ các quy định về đánh giá tác động môi trường. Đây được xem là công cụ vừa mang tính pháp lý vừa mang tính kĩ thuật để giải quyết tranh chấp. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của hoạt động đánh giá tác động môi trường trong giải quyết các tranh chấp môi trường thể hiện ở chỗ thông hoạt động này cơ quan tài phán sẽ có cơ sở để xem xét một số vấn đề như: các bên đã cân nhắc đến tất cả các yếu tố có liên quan đến môi trường chưa? Mọi tác động xấu đến môi trường từ hoạt động phát triển đã được đánh giá, dự báo trước? Các bên có liên quan cũng như cơ quan có thẩm quyền có nhận thực được đầy đủ những nguy cơ nội tại mà hoạt động phát triển có thể gây nên cho môi trường hay không?… Nếu câu trả lời là chưa thì nguyên tắc phòng ngừa sẽ được áp dụng để buộc các bên phải tiến hành việc xem xét, đánh giá các vấn đề nêu trên một cách đầy đủ và nghiêm túc nhất.
c) Nguyên tắc phối hợp, hợp tác
Để có duy trì mối quan hệ lâu dài giữa các bên tranh chấp trong việc cùng tìm ra các giải pháp khắc phục và cải thiện môi trường, cần áp dụng nguyên tắc phối hợp, hợp tác giữa các bên khi tiến hành giải quyết tranh chấp. Từ phương diện xã hội thì đây được xem là phương cách tốt nhất để tổng hợp mọi nguồn lực xã hội vào việc khắc phục và cải thiện chất lượng môi trường sống chung của con người.
Nguyên tắc phối hợp, hợp tác hành động có thể được hiểu là thông qua hoạt động giải quyết tranh chấp để liên kết tất cả các bên tham gia. Họ có cơ hội đối thoại trực tiếp với nhau, thông tin đồng thuận xã hội, cùng nhau xác định trách nhiệm, chia sẻ quyền lợi và tìm tiếng nói chung để ngăn chặn nguy cơ hủy hoại môi trường nhằm hướng tới phát triển bền vững.
d) Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chịu trách nhiệm pháp lý
“Người gây ô nhiễm’’ ở đây được hiểu theo nghĩa rộng là người có hành vi vi phạm pháp luật môi trường. Tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người vi phạm phải chịu các dạng trách nhiệm pháp lý như hình sự, hành chính, dân sự. Trong nhiều trường hợp khi giải quyết tranh chấp môi trường, bên bị thiệt hại không chỉ yêu cầu bồi thường thiệt hại mà còn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phải xử lý nghiêm khắc bên có hành vi vi phạm. Chính vì thế cho nên khi giải quyết các tranh chấp môi trường phải xem xét một cách khách quan, chính xác hành vi vi phạm của các chủ thể liên quan để xử lý theo quy định pháp luật, qua đó vừa nhằm bảo đảm trật tự quản lý Nhà nước, răn đe, ngăn chặn các hành vi vi phạm, vừa nhằm khôi phục, bảo vệ quyền lợi của các chủ thể liên quan trong quá trình tranh chấp một cách toàn diện và hiệu quả nhất.
3. Cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường
Từ những nguyên tắc đã phân tích ở trên, vận dụng vào từng loại tranh chấp môi trường cụ thể, để có một cơ chế giải quyết thích hợp đó là: những tranh chấp môi trường mang tính dân sự thì áp dụng tố tụng dân sự để giải quyết, những tranh chấp môi trường mang tính hành chính thì áp dụng tố tụng hành chính để giải quyết, những tranh chấp môi trường có dấu hiệu tội phạm hình sự thì áp dụng tố tụng hình sự để giải quyết. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, tranh chấp môi trường chủ yếu là loại tranh chấp dân sự nên có các cơ chế giải quyết tranh chấp cụ thể như sau: thương lượng, hòa giải, giải quyết tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trong quá trình này, cần thực hiện các hoạt động cụ thể sau:
a) Người giải quyết vụ việc (cơ quan Nhà nước, hòa giải viên…) phải đọc kỹ nội dung của đơn mà bên có yêu cầu giải quyết tranh chấp đưa ra để xác định tính khách quan, chính xác của các nội dung này; từ đó lựa chọn các quy định liên quan để áp dụng giải quyết. Ví dụ, đơn yêu cầu xử lý doanh nghiệp X xả nước thải vượt quy chuẩn gây ô nhiễm nguồn nước nuôi trồng thủy sản của người dân thì trước hết người giải quyết vụ việc phải xác minh sơ bộ trên thực tế doanh nghiệp X hoạt động ở đâu, trong lĩnh vực gì? Tình hình xả nước thải trong những năm gần đây ra sao… đồng thời tìm hiểu các quy định pháp luật môi trường về xả nước thải, quy chuẩn xả thải… để áp dụng giải quyết vụ việc…
b) Hướng dẫn các bên thu thập chứng cứ chứng minh thiệt hại: Các chứng cứ đó có thể là chứng cứ về thiệt hại trong sản xuất nông nghiệp như vật nuôi, cây trồng bị chết, giảm năng suất… hoặc các chứng cứ về thiệt hại tới tính mạng, sức khỏe con người như các bệnh phát sinh do ô nhiễm, hóa đơn chứng từ chứng minh chi phí khám chữa bệnh…
c) Xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại trên thực tế: Việc xác định này là rất khó khăn bởi lẽ những thiệt hại trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp hoặc thiệt hại về sức khỏe con người là rất đa dạng và do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có những nguyên nhân khách quan như biến đổi bất thường về thời tiết, dịch bệnh… Chính vì thế khi xác định mối quan hệ nhân quả này cần phải áp dụng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó đặc biệt coi trọng việc ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại.
d) Xác định giá trị thiệt hại xảy ra: Việc này cần được thực hiện thông qua một hội đồng do cơ quan có thẩm quyền thành lập với đại diện là các cơ quan quản lý liên quan, các nhà khoa học, bên bị thiệt hại, bên gây thiệt hại. Hội đồng này dựa trên các chứng cứ về thiệt hại, khảo sát thực tế, áp dụng các phương pháp xác định thiệt hại về môi trường theo quy định pháp luật hiện hành để từ đó đưa ra đánh giá về giá trị thiệt hại trên thực tế, làm cơ sở cho các bên thương lượng, thỏa thuận mức bồi thường.
đ) Xác định mức bồi thường, phương thức bồi thường: Dựa trên các kết quả về mức thiệt hại, nguyên nhân dẫn đến thiệt hại… người giải quyết tranh chấp sẽ đưa ra các mức bồi thường, phương thức bồi thường để các bên tranh chấp thảo luận, thương lượng nhằm đi đến một kết quả thống nhất để bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên tranh chấp.
e) Nếu quá trình thương lượng, hòa giải không thành thì vụ việc được giải quyết ở tòa án dân sự.
B. TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT
1. Nhà bà N có thầu dài hạn gần 400 m2 mặt nước để thả cá nhưng bị hai gia đình bên cạnh là gia đình ông H và ông M nuôi lợn công nghiệp thả chất thải và phân lợn chưa qua xử lý xuống gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, làm cá của nhà bà N chết hàng loạt, bà con xung quanh phải chịu cảnh ô nhiễm môi trường. Bà N yêu cầu 02 hộ gia đình ông H và ông M phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình mình.
Trong trường hợp này, hành vi của hai hộ gia đình ông H và ông M bị xử lý như thế nào?
Trả lời:
Điều 69 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định về việc bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp như sau:
- Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y phải thực hiện quy định về bảo vệ môi trường tại khoản 1 và khoản 2 Điều 78 của Luật này.
- Phân bón, sản phẩm xử lý môi trường chăn nuôi đã hết hạn sử dụng; dụng cụ, bao bì đựng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y sau khi sử dụng phải được xử lý theo quy định về quản lý chất thải.
- Khu chăn nuôi tập trung phải có phương án bảo vệ môi trường và đáp ứng yêu cầu sau:
+ Bảo đảm vệ sinh môi trường đối với khu dân cư;
+ Thu gom, xử lý nước thải, chất thải rắn theo quy định về quản lý chất thải;
+ Chuồng, trại phải được vệ sinh định kỳ; bảo đảm phòng ngừa, ứng phó dịch bệnh;
+ Xác vật nuôi bị chết do dịch bệnh phải được quản lý theo quy định về quản lý chất thải nguy hại và vệ sinh phòng bệnh.
Khoản 5 Điều 7 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 nghiêm cấm thực hiện hành vi thải chất thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước và không khí.
Như vậy, việc 02 hộ gia đình ông H và ông M xả chất thải (phân lợn chưa qua xử lý) xuống sông, gây ô nhiễm môi trường là vi phạm Luật bảo vệ môi trường.
Theo quy định của pháp luật, hành vi của 02 hộ gia đình ông H và ông M sẽ bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 179/2013/NĐ-CP.
Đồng thời, hành vi nêu trên đã gây thiệt hại cho gia đình bà N, nên 02 hộ gia đình ông H và ông M phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Việc xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại đối với tài sản và lợi ích hợp pháp của gia đình bà N do hậu quả của môi trường sông bị ô nhiễm được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự.
2. Gia đình bà H mở cửa hàng cơm bình dân. Sáng nào bà H cũng mang bếp than tổ ong ra ngõ nhóm lửa, làm khói bay mù mịt vào những nhà xung quanh. Không những thế, bà H còn thường xuyên đổ rác ở gốc cây gần nhà ông M bốc mùi hôi thối, gây ô nhiễm môi trường. Ông M và hàng xóm đã góp ý nhiều lần nhưng bà H không chịu sửa đổi mà còn có thái độ thách thức.
Hành vi của bà H có vi phạm pháp luật không?
Trả lời:
Việc bà Hạnh thường xuyên nấu bếp than tổ ong và đổ rác không đúng nơi quy định, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ của những người hàng xóm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
Theo quy định tại Điều 82 Luật bảo vệ môi trường năm 2014, hộ gia đình cần phải chấp hành các yêu cầu bảo vệ môi trường sau đây:
- Giảm thiểu, phân loại tại nguồn, thu gom và chuyển rác thải sinh hoạt đến đúng nơi quy định.
- Giảm thiểu, xử lý và xả nước thải sinh hoạt đúng nơi quy định.
- Không được phát tán khí thải, gây tiếng ồn, độ rung và tác động khác vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến cộng đồng dân cư xung quanh.
- Nộp đủ và đúng thời hạn phí bảo vệ môi trường; chi trả cho dịch vụ thu gom, xử lý chất thải theo quy định của pháp luật;
- Tham gia hoạt động bảo vệ môi trường công cộng và tại khu dân cư.
- Có công trình vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm bảo đảm vệ sinh, an toàn.
Hành vi của bà H có thể bị xử phạt hành chính về hành vi đểrác, chất thải, xác động vật hoặc bất cứ vật gì khác mà gây ô nhiễm ra nơi công cộng theo Điều 7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội và về hành vi thải bụi, khí thải vào môi trường theo quy định tại Nghị định số 179/2013/NĐ-CP.
Nếu hành vi của bà Hạnh ảnh hưởng đến sức khỏe của gia đình bạn thì bạn có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015. Cụ thể, khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:
“1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.
Điều 602 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường như sau: “Chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp chủ thể đó không có lỗi”.
3. Hộ gia đình ông A kinh doanh xay xát nhựa và gia công các chi tiết bằng nhựa. Thời gian hoạt động từ 6 giờ sáng tới 6 giờ tối mà không sử dụng bất kỳ phương pháp chống ồn, chống ô nhiễm môi trường. Hằng ngày tiếng ồn từ máy xay nhựa, máy ép, máy dập với âm thanh rất to làm, bụi nhựa từ sáng tới tối, làm ảnh hưởng tới cuộc sống của các hộ gia đình trong khu vực. Các gia đình xung quanh đã nhiều lần nhắc nhở mà hộ gia đình này không cải thiện mà còn ngoan cố thách thức mọi người về luật pháp, cứ gọi chính quyền vào đây giải quyết.
Xin hỏi, việc làm của hộ gia đình ông A có vi phạm pháp luật và có bị xử lý không ?
Trả lời:
Theo Điều 68 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định bảo vệ môi trường đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
“1. Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường sau:
a) Thu gom, xử lý nước thải bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường;
b) Thu gom, phân loại, lưu giữ, xử lý, thải bỏ chất thải rắn theo quy định của pháp luật;
c) Giảm thiểu, thu gom, xử lý bụi, khí thải theo quy định của pháp luật; bảo đảm không để rò rỉ, phát tán khí độc hại ra môi trường; hạn chế tiếng ồn, độ rung, phát sáng, phát nhiệt gây ảnh hưởng xấu đối với môi trường xung quanh và người lao động;
d) Bảo đảm nguồn lực, trang thiết bị đáp ứng khả năng phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường;
đ) Xây dựng và thực hiện phương án bảo vệ môi trường.
2. Cơ sở sản xuất hoặc kho tàng thuộc các trường hợp sau phải có khoảng cách bảo đảm không có tác động xấu đối với khu dân cư:
a) Có chất dễ cháy, dễ nổ;
b) Có chất phóng xạ hoặc bức xạ mạnh;
c) Có chất độc hại đối với người và sinh vật;
d) Phát tán bụi, mùi, tiếng ồn ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người;
đ) Gây ô nhiễm nguồn nước.
3. Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có phát sinh lượng chất thải lớn, nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường phải có bộ phận chuyên môn hoặc nhân sự phụ trách về bảo vệ môi trường; phải được xác nhận hệ thống quản lý môi trường theo quy định của Chính phủ.
4. Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này và quy định của pháp luật có liên quan”.
Căn cứ vào quy định tại điểm c khoản 1 Điều 68 nêu trên cho thấy cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải có biện pháp giảm thiểu, thu gom, xử lý bụi, khí thải theo quy định của pháp luật; bảo đảm không để rò rỉ, phát tán khí độc hại ra môi trường; hạn chế tiếng ồn, độ rung, phát sáng, phát nhiệt gây ảnh hưởng xấu đối với môi trường xung quanh và người lao động. Việc cơ sở sản xuất, kinh doanh không có biện pháp xử lý giảm thiểu tiếng ồn, khí thải ra môi trường là vi phạm pháp luật và tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 179/2013/NĐ-CP hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 235 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội gây ô nhiễm không khí.
C. VĂN BẢN PHÁP LUẬT
- Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ban hành ngày 23/6/2014, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015;
1. Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/4/2015
2. Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/4/2015
3. Nghị định số 03/2015/NĐ-CP ngày 06/01/2015 quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/03/2015
4. Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 quy định về quản lý chất thải và phế liệu, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/6/2015
5. Các văn bản pháp luật khác có liên quan.
Chuyên đề 5
VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
MỤC LỤC
Trang
|
A. Kiến thức pháp luật………………………….…………………………....
|
344
|
|
I. Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý……………….………………...
|
344
|
|
1. Vi phạm pháp luật…………………………….…………………………...
|
344
|
|
2. Trách nhiệm pháp lý………………………….…………………………...
|
352
|
|
B. Tình huống pháp luật………………………….…………………………...
|
364
|
|
C. Văn bản pháp luật…………………………………..…...…………………
|
367
|
A. KIẾN THỨC PHÁP LUẬT
I. VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
1. Vi phạm pháp luật
1.1. Khái niệm vi phạm pháp luật
Việc xác định đúng đắn, đầy đủ về khái niệm vi phạm pháp luật có một ý nghĩa rất quan trọng trong nhận thức của xã hội để vừa giúp cho việc nhận diện hiện tượng xã hội cực đoan này, qua đó có thể phân biệt giữa chúng với các loại lệch chuẩn xã hội khác, vừa để có các biện pháp ngăn ngừa chúng dựa vào việc tìm hiểu cơ chế của vi phạm pháp luật cũng như nguyên nhân của chúng, đồng thời có thể đưa ra các biện pháp xử lý thích hợp nhằm khôi phục trật tự pháp luật đã bị xâm hại, có tác dụng giáo dục, cải tạo hoặc trừng trị những chủ thể vi phạm đó.
Vi phạm pháp luật là một phạm trù lịch sử, xuất hiện từ khi có pháp luật. Vi phạm pháp luật là một dạng lệch chuẩn xã hội, gây ra hoặc có nguy cơ gây ra những hậu quả xấu cho xã hội và có thể là cho chính người vi phạm. Vi phạm pháp luật đã được xác định và có thể nhận biết được qua các dấu hiệu đặc trưng của nó. Những dấu hiệu này không chỉ giúp nhận biết về vi phạm pháp luật mà còn có thể phân biệt với các loại vi phạm các quy tắc khác trong đời sống như vi phạm đạo đức, tập quán, tín điều tôn giáo…, cụ thể, được gọi là một vi phạm pháp luật khi có đủ các dấu hiệu cơ bản sau:
a) Vi phạm pháp luật là hành vi thực tế xác định của con người
Pháp luật được Nhà nước đặt ra là để điều chỉnh các quan hệ xã hội mà trực tiếp là tác động lên hành vi xã hội của con người, nhằm xác lập và duy trì trật tự xã hội theo ý chí Nhà nước. Một chủ thể có bị coi là vi phạm pháp luật hay không phụ thuộc vào họ có hành vi xác định hay không. Đối với những chủ thể chịu sự điều chỉnh của pháp luật, hành vi của họ mới bị tác động theo những hướng khác nhau, do vậy phải có hành vi được thể hiện trên thực tế mới có cơ sở để xác định có vi phạm pháp luật hay không.
Hành vi xác định của con người phải được thể hiện ra bên ngoài và có thể nhận thức được qua cách xử sự của họ bằng hành động khi thực hiện những thao tác nhất định nhưng cũng có thể thể hiện dưới dạng không hành động như không nộp thuế, không tố giác… Nếu hành vi của con người không được bộc lộ ra bên ngoài, pháp luật không có căn cứ để tác động, điều chỉnh họ được. Xử sự của con người đặt trong quan hệ với Nhà nước chỉ được xác định là đúng hay sai, thiếu hay đủ và có được hay không nếu được so sánh với chuẩn mực hành vi hay khuôn mẫu cho cách xử sự của con người mà pháp luật đã đặt ra. Vì vậy, không phải hành vi nào của con người cũng bị pháp luật điều chỉnh nếu nó không phải là hành vi mang tính xã hội mà Nhà nước cần tác động. Vi phạm pháp luật phải là hành vi xác định của con người và chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Nó không thể là suy nghĩ, ước mơ, giấc mơ của con người hay những sự biến xảy ra nằm ngoài ý chí của con người… mà phải là kết quả của những suy nghĩ đã được hiện thực hóa hành vi thực tế cụ thể.
b) Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật
Các quy phạm pháp luật mà Nhà nước đặt ra có những khuôn mẫu cho cách xử sự của con người. Đó là những giới hạn cho phép người ta biết quyền được làm, nghĩa vụ, cách thức người ta cần phải thực hiện. Những hành vi làm ngược với những chuẩn mực đó được gọi là hành vi trái pháp luật. Hành vi vi phạm pháp luật bao giờ cũng tác động một cách tiêu cực đến các mục tiêu bảo vệ của Nhà nước. Nó có thể làm biến đổi tình trạng bình thường của các quan hệ xã hội, gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại nhất định cho xã hội. Tuy nhiên, không phải bao giờ hành vi gây hậu quả xấu cho xã hội cũng là hành vi trái pháp luật nếu pháp luật chưa xác định. Đây cũng là dấu hiệu để có thể phân biệt vi phạm pháp luật với những lệch chuẩn xã hội khác như vi phạm đạo đức, tập quán hay những quy tắc xã hội thông thường khác. Có hành vi trái đạo đức hay quy tắc xã hội khác mà không trái pháp luật thì không thể là vi phạm pháp luật. Vì vậy, vi phạm pháp luật phải là hành vi trái pháp luật.
Hành vi trái pháp luật có thể thể hiện dưới dạng hành động bằng những thao tác, động tác bị pháp luật cấm như đâm, chém người, trộm cắp tài sản, đi vào đường cấm hoặc vượt quá phạm vi pháp luật cho phép như giết người trong trường hợp vượt quá phòng vệ chính đáng, lạm quyền khi thi hành công vụ, có thể được thể hiện dưới dạng không hành động, trốn tránh thực hiện nghĩa vụ mà pháp luật đòi hỏi như không tố giác tội phạm, trốn thực hiện nghĩa vụ quân sự… nhưng cũng có thể là hành vi làm không đúng như yêu cầu của pháp luật như cài quai mũ bảo hiểm không đúng cách khi tham gia giao thông bằng mô tô. Những hành vi này đã xâm hại các quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ.
c) Hành vi vi phạm pháp luật do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện
Năng lực trách nhiệm pháp lý của một chủ thể là khả năng gánh chịu những hậu quả pháp lý tiêu cực phát sinh từ hành vi mà chủ thể thực hiện. Chủ thể vi phạm pháp luật có thể là cá nhân nhưng cũng có thể là tổ chức. Tuy nhiên, các hoạt động của tổ chức thì cũng luôn luôn phải thông qua các cá nhân nên năng lực trách nhiệm pháp lý chủ yếu được xác định ở các cá nhân. Năng lực trách nhiệm pháp lý của cá nhân được xác định qua khả năng nhận thức, đánh giá ý nghĩa xã hội của hành vi mà chủ thể thực hiện và khả năng gánh chịu những hậu quả phát sinh từ những hành vi đó của họ.
Dấu hiệu để xác định năng lực trách nhiệm pháp lý của cá nhân được bộc lộ qua các yếu tố gồm lứa tuổi, năng lực nhận thức (năng lực lý trí), năng lực kiểm soát và điều khiển hành vi (năng lực ý chí). Tùy từng loại vi phạm pháp luật mà những yếu tố trên được pháp luật xác định ở những mức độ khác nhau và gắn với mức độ gánh chịu hậu quả pháp lý khác nhau cho các chủ thể.
d) Hành vi vi phạm pháp luật phải có lỗi của chủ thể thực hiện
Trong vi phạm pháp luật, lỗi được hiểu là trạng thái tâm lý thể hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật và hậu quả của hành vi ấy.
Khi thực hiện hành vi, con người được đặt trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định. Một hành vi chỉ bị coi là vi phạm pháp luật nếu chủ thể thực hiện hành vi trong điều kiện mà pháp luật xác định là có lỗi.
Trong các điều kiện thông thường, một chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý có thể nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi mà mình thực hiện, hậu quả của hành vi ấy có thể xảy ra và có điều kiện lựa chọn cách xử sự phù hợp với pháp luật. Khi một chủ thể đã thực hiện hành vi trái pháp luật trong điều kiện nhận thức được hành vi của mình có thể gây ra những thiệt hại nào đó, đồng thời hành vi đó là kết quả của việc cân nhắc để lựa chọn cách xử sự đó trong điều kiện có thể lựa chọn cách xử sự khác phù hợp với pháp luật thì chủ thể đó đã có lỗi. Trong điều kiện như vậy, chủ thể là người được tự do ý chí và họ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
Trong trường hợp ngược lại, mặc dù chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật, thậm chí gây hậu quả xấu cho xã hội nhưng nếu chủ thể đó không được tự do ý chí như không thể thấy được tính trái pháp luật cũng như hậu quả của hành vi hoặc không còn cách xử sự nào khác phù hợp với pháp luật thì chủ thể đó không có lỗi và không vi phạm pháp luật. Chẳng hạn, do sự cưỡng bức về thân thể mà một người đã không thể điều khiển hành vi theo ý chí của mình thì chủ thể đó không có lỗi như trong trường hợp người lái xe bị cướp ép tay lái và gây ra tai nạn. Cũng có thể chủ thể sẽ không có lỗi nếu đã thực hiện một hành vi trái pháp luật trong trường hợp không thể lựa chọn được cách xử sự phù hợp với pháp luật như người lái xe buộc phải đánh lái cho xe đâm sang phía ta-luy đường khi xe mất phanh để tránh lao xuống vực.
Từ những phân tích trên, có thể xác định vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
1.2. Cấu thành của vi phạm pháp luật
Nếu như khái niệm vi phạm pháp luật cho ta nhận biết thế nào là một hành vi vi phạm pháp luật và phân biệt vi phạm pháp luật với các loại lệch chuẩn xã hội khác thì cấu thành của vi phạm pháp luật sẽ cho ta biết mỗi vi phạm pháp luật cụ thể do những yếu tố nào cấu tạo nên, có đặc trưng riêng biệt gì và có thể để phân biệt giữa các vi phạm pháp luật khác nhau cũng như mức độ nguy hiểm của chúng.
Cấu thành của vi phạm pháp luật cũng chính là căn cứ thực tế để truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật. Một hành vi vi phạm pháp luật luôn có các yếu tố cấu thành cơ bản sau:
a) Mặt khách quan của vi phạm pháp luật
Mặt khách quan của vi phạm pháp luật là toàn bộ những biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan, bao gồm các dấu hiệu: hành vi trái pháp luật, hậu quả của hành vi này và những yếu tố như thời gian, địa điểm, cách thức, thủ đoạn, công cụ, phương tiện vi phạm pháp luật…
- Hành vi trái pháp luật cho biết một trong những dấu hiệu đặc trưng của một vi phạm pháp luật cụ thể, xác định hành vi đó đã xâm hại quan hệ xã hội nào mà pháp luật đã bảo vệ, để làm căn cứ đầu tiên xác định nó thuộc loại vi phạm pháp luật nào. Hành vi này có thể được thể hiện dưới dạng hành động như thực hiện hành vi pháp luật cấm, không đúng yêu cầu hoặc vượt quá phạm vi quyền nhưng cũng có thể dưới dạng không hành động như trốn tránh thực hiện một nghĩa vụ pháp lý mà lẽ ra chủ thể phải thực hiện. Như vậy, căn cứ để xác định hành vi trái pháp luật là các quy định hiện hành của pháp luật.
- Hậu quả của hành vi trái pháp luật là trạng thái sai lệch của các quan hệ xã hội được Nhà nước bảo vệ. Khi thực hiện hành vi trái pháp luật, thiệt hại có thể xảy ra hoặc không. Điều này có thể được coi là một cơ sở quan trọng để đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật. Trong một số trường hợp, thiệt hại thực tế là dấu hiệu bắt buộc. Nếu không có thiệt hại thì trong trường hợp đó, chưa quy kết được vi phạm pháp luật có thực hay không hoặc quy kết nó là loại vi phạm nào. Thiệt hại đó có thể là tính mạng, sức khỏe của con người, cũng có thể là tài sản…, có thể định tính về mức độ nguy hiểm của hành vi thông qua viêc định lượng cho chúng. Trong một số trường hợp, thiệt hại thực tế chưa xảy ra, nhưng hậu quả có thể vẫn xác định được do tính chất nguy hiểm của hành vi trái pháp luật ở nguy cơ gây ra thiệt hại hoặc là trạng thái quan hệ xã hội khi bị hành vi trái pháp luật tác động như sự sai lệch chuẩn mực cần thiết, sự tôn nghiêm của pháp luật bị coi thường… Do vậy, có trường hợp tuy chưa gây ra thiêt hại nhưng bản thân hành vi trái pháp luật của chủ thể đã thể hiện tính nguy hiểm của nó nên bị pháp luật gắn với những biện pháp trách nhiệm pháp lý.
- Thời gian xảy ra vi phạm là thời điểm hoặc khoảng thời gian vi phạm pháp luật được thực hiện. Nó cũng có ý nghĩa nhất định phản ánh về hành vi trái pháp luật và xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý. Điều kiện, hoàn cảnh và thời gian xảy ra vi phạm pháp luật cũng là một biểu hiện về mặt khách quan cần xem xét trong vi phạm pháp luật. Chúng thường có quan hệ với nhau, chẳng hạn như cùng một hành vi đầu cơ để trục lợi nhưng nếu nó xảy ra khi không có thiên tai sẽ khác với khi có thiên tai vì mức độ ảnh hưởng của chúng đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ là khác nhau. Công cụ, phương tiện vi phạm pháp luật được hiểu là cái mà chủ thể sử dụng để tác động lên đối tượng thuộc quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ như dao để đâm người, kim tiêm để truyền HIV cho người khác hoặc là những gì được sử dụng để hỗ trợ chủ thể khi thực hiện hành vi như dùng xe máy đi cướp giật.
- Thủ đoạn vi phạm cũng phản ánh mức độ nguy hiểm của hành vi. Nếu thủ đoạn vi phạm pháp luật tinh vi thì khả năng gây hậu quả xấu cũng như khả năng che giấu hành vi vi phạm sẽ cao hơn. Nó làm tăng mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật.
b) Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật
Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là toàn bộ những diễn biến tâm lý bên trong của chủ thể khi vi phạm pháp luật bao gồm các yếu tố: lỗi, động cơ và mục đích.
- Lỗi là yếu tố quan trọng nhất trong mặt chủ quan. Lỗi phản ánh thái độ tâm lý bên trong của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật và hậu quả của hành vi ấy nên nó cũng phản ánh mức độ tiêu cực của chủ thể đối với xã hội. Do đó, nó được coi là “thước đo trách nhiệm pháp lý” đối với chủ thể vi phạm. Có các loại lỗi cơ bản là cố ý và vô ý. Lỗi cố ý gồm có cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp. Lỗi vô ý gồm vô ý do quá tự tin và vô ý do cẩu thả.
+ Lỗi cố ý trực tiếp phản ánh thái độ tâm lý tiêu cực nhất vì với lỗi này, chủ thể đã nhận thức được hậu quả nguy hiểm của hành vi nhưng vẫn mong muốn cho hậu quả đó xảy ra. Khi đó, chủ thể thường quyết liệt hơn trong việc thực hiện hành vi vi phạm nhằm đạt được mong muốn của mình nên khả năng hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật thường rất lớn, thể hiện thái độ chống đối pháp luật rất cao của chủ thể, ví dụ như hành vi giết người hay cố ý gây thương tích cho người khác.
+ Lỗi cố ý gián tiếp thể hiện ý thức chủ quan của chủ thể là đã nhận thức được hậu quả nguy hiểm của hành vi mà mình thực hiện, tuy không mong muốn nhưng lại để mặc cho hậu quả xảy ra. Vì vậy, với thái độ chấp nhận hậu quả qua việc chủ thể đã không có ý thức loại trừ hậu quả khi thực hiện hành vi nên mức độ tác động xấu đến xã hội vẫn rất cao tuy tính tiêu cực không cao như cố ý trực tiếp, ví dụ như hành vi không cứu giúp người khác trong tình trạng nguy hiểm hay không tố giác tội phạm.
+ Lỗi vô ý do quá tự tin, chủ thể thực hiện hành vi tuy thấy trước hậu quả có thể xảy ra nhưng tin rằng hậu quả đó không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được. Mức độ tiêu cực của chủ thể ở lỗi này hạn chế hơn vì họ đã cho rằng hậu quả không xảy ra nên mới thực hiện hành vi hay đã có ý thức ngăn chặn hậu quả.
+ Lỗi vô ý do cẩu thả, chủ thể đã không ý thức về hậu quả của hành vi mà mình thực hiện mặc dù họ đủ điều kiện để thấy trước và pháp luật buộc phải thấy trước. Đây thường là những trường hợp vi phạm quy tắc an toàn như bác sỹ phẫu thuật không kiểm tra băng, gạc khi phẫu thuật, y tá đã không kiểm tra hạn sử dụng thuốc cho bệnh nhân. Tuy thái độ tiêu cực không cao như các loại lỗi trên nhưng hành vi được thực hiện với loại lỗi này thường gây hậu quả thực tế cũng rất nghiêm trọng do không lường trước hậu quả hay chuẩn bị phương án khắc phục.
- Động cơ vi phạm là động lực bên trong đã thúc đẩy chủ thể thưc hiện hành vi vi phạm pháp luật. Khi có động cơ, chủ thể bao giờ cũng có ý thức và quyết tâm hơn khi thực hiện hành vi. Có động cơ tốt và động cơ xấu nhưng trong vi phạm pháp luật thì thường là động cơ xấu như động cơ đê hèn, động cơ vụ lợi.
- Mục đích của vi phạm pháp luật là kết quả trong tưởng tượng của chủ thể khi thực hiện hành vi vi phạm, chẳng hạn khi trộm cắp thì mục đích của chủ thể là lấy được tài sản. Khi thực hiện một hành vi, chủ thể có thể có nhiều mục đích khác nhau.
Nếu động cơ là cái vì nó mà chủ thể thực hiện hành vi vi phạm và không có nó, chủ thể không thực hiện hành vi đó, chẳng hạn như để che giấu tội thì giết người diệt khẩu, thì mục đích là cái mà chủ thể hướng tới khi thực hiện hành vi như phải lấy được tài sản khi trộm cắp. Nếu chủ thể có cả động cơ và mục đích vi phạm thì động cơ thường có trước mục đích.
c) Chủ thể của vi phạm pháp luật
Chủ thể của vi phạm pháp luật là những cá nhân hay tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý đã có hành vi vi phạm pháp luật. Các chủ thể của vi phạm pháp luật có những khả năng nhất định để nhận thức về hành vi mà họ thực hiện và khả năng gánh chịu hậu quả của hành vi đó ở những mức độ khác nhau. Trong một số trường hợp, chủ thể của một vi phạm pháp luật nào đó phải thỏa mãn những dấu hiệu riêng biệt mà nếu thiếu nó thì không có vi phạm. Chẳng hạn, tội tham ô, tội nhận hối lộ hay tội cố ý làm trái các quy định của nhà nước về quản lý gây hậu quả nghiêm trọng cần dấu hiệu của chủ thể đặc biệt.
d) Khách thể của vi phạm pháp luật
Khách thể của vi phạm pháp luật là những quan hệ xã hội được Nhà nước bảo vệ nhưng đã bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại.
Khi đặt ra pháp luật, bao giờ Nhà nước cũng có mục đích nhất định. Với nhiệm vụ xác lập, duy trì bảo vệ trật tự xã hội, Nhà nước phải xác định những quan hệ quan trọng mà mình phải có nhiệm vụ bảo vệ. Một hành vi vi phạm pháp luật có thể đồng thời xâm phạm một hoặc nhiều khách thể, ví dụ như hành vi cướp vừa xâm hại quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe và tính mạng, vừa xâm hại quyền sở hữu. Cũng vì vậy, không nên nhầm lẫn khách thể của vi phạm pháp luật với đối tượng tác động của vi phạm đó. Đối tượng bị xâm hại có thể là những sự vật, con người cụ thể. Thông qua đối tượng có thể nhận thức được quan hệ xã hội nào là khách thể đã bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại và xâm hại đến mức độ nào và với những bộ phận gì cấu thành nên khách thể tức là quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
1.3. Phân loại vi phạm pháp luật.
Vi phạm pháp luật xảy ra rất đa dạng trong đời sống xã hội. Trong xây dựng và áp dụng pháp luật, việc phân loại vi phạm pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng bởi đó là cơ sở để xác định loại trách nhiệm pháp lý thích hợp đồng thời cũng cho thấy rõ thái độ của Nhà nước đối với các loại vi phạm pháp luật. Có nhiều cách để phân loại vi phạm pháp luật, mỗi cách dựa trên những căn cứ nhất định. Tuy nhiên, theo quan điểm truyền thống, vi phạm pháp luật được chia thành bốn loại là vi phạm hình sự, vi phạm hành chính, vi phạm kỉ luật nhà nước và vi phạm dân sự. Cơ sở của sự phân loại này là tổng hợp các yếu tố bao gồm tính chất, tầm quan trọng của khách thể cần được bảo vệ, mức độ hậu quả, tính chất của hành vi, công cụ vi phạm, đặc điểm về nhân thân người vi phạm…
a) Vi phạm hình sự (tội phạm) là loại vi phạm pháp luật có tính nguy hiểm cho xã hội ở mức độ cao nhất, xâm phạm những quan hệ xã hội quan trọng nhất trong hệ thống quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Ở Việt Nam hiện nay, tội phạm được qui định trong Bộ luật hình sự.
b) Vi phạm hành chính là vi phạm pháp luật có tính nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm. Ở Việt Nam, điều này được xác định cụ thể tại Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”. Về cơ bản, khách thể của vi phạm hành chính có tầm quan trọng đối với đời sống xã hội thấp hơn so với khách thể của tội phạm hoặc tính chất và mức độ thiệt hại cho xã hội do vi phạm hành chính gây ra hoặc có thể gây ra cũng thấp hơn tội phạm... Trong một số trường hợp, khách thể của tội phạm và vi phạm hành chính là giống nhau nhưng hành vi thực hiện lại có thể có mức độ vi phạm hay gây thiệt hại là khác nhau nên có thể coi hành vi này là tội phạm còn hành vi kia lại chỉ là vi phạm hành chính mà thôi. Chẳng hạn, cũng là hành vi gây thương tích cho người khác, nếu mức độ thương tích là chưa vượt quá 11% mà không có tình tiết tăng nặng khác thì hành vi đó chỉ bị coi là vi phạm hành chính và người gây thương tích đó chỉ bị xử lý hành chính, nhưng nếu thương tích từ 11% trên lên thì hành vi đó sẽ trở thành tội phạm.
c) Vi phạm kỷ luật nhà nước là vi phạm pháp luật trong trường hợp chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của họ trong một quan hệ pháp luật được xác lập trong nội bộ cơ quan, tổ chức thuộc phạm vi quản lý nhà nước. Loại vi phạm này có đặc trưng: thứ nhất, hành vi vi phạm xâm hại tới những quan hệ xã hội được xác lập trong nội bộ cơ quan, tổ chức nhất định, những quan hệ xã hội này được pháp luật điều chỉnh nhằm đảm bảo trật tự trong hoạt động của cơ quan, tổ chức đó; thứ hai, chủ thể vi phạm là những người có quan hệ ràng buộc với một cơ quan, tổ chức nào đó. Cần lưu ý là hành vi xâm hại quan hệ xã hội được xác lập trong nội bộ một cơ quan, tổ chức thuộc phạm vi quản lý nhà nước trong một số trường hợp nếu gây thiệt hại đến một mức độ nhất định nào đó có thể bị coi là vi phạm pháp luật khác.Ví dụ, một người là lãnh đạo một cơ quan nhà nước đã kỷ luật buộc thôi việc không đúng quy định của luật do sai quy trình, thủ tục thì chỉ bị coi là vi phạm kỷ luật nhà nước nhưng nếu vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà thực hiện một trong các hành vi như ra quyết định buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức, viên chức; sa thải trái pháp luật đối với người lao động hoặc cưỡng ép, đe doạ buộc người lao động, công chức, viên chức phải thôi việc làm cho người bị thôi việc, người bị sa thải hoặc gia đình họ lâm vào tình trạng khó khăn hoặc dẫn đến đình công thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật theo Điều 162 Bộ luật hình sự năm 2015.
Ở đây cần phân biệt vi phạm kỷ luật nhà nước với vi phạm kỷ luật của các tổ chức khác trong xã hội, bởi vì mỗi tổ chức trong xã hội đều có kỷ luật riêng, đó là những qui tắc xử sự được đặt ra cho thành viên của tổ chức nhằm đảm bảo trật tự trong hoạt động của chính tổ chức đó. Vi phạm kỷ luật của tổ chức không có dấu hiệu trái pháp luật thì không thể là vi phạm pháp luật.
d) Vi phạm dân sự là vi phạm pháp luật trong trường hợp chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của họ trong một quan hệ pháp luật dân sự cụ thể. Đặc trưng của loại vi phạm này là giữa chủ thể vi phạm và chủ thể bị vi phạm có một quan hệ pháp luật dân sự, có thể là quan hệ về tài sản, quan hệ nhân thân gắn với tài sản hoặc quan hệ nhân thân phi tài sản mà người vi phạm là người có nghĩa vụ trong quan hệ đó nhưng đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình trong quan hệ pháp luật đó. Ví dụ, một người đã không thực hiện công việc như đã cam kết trong một hợp đồng khoán việc hoặc một người do vô ý làm hư hại tài sản của người khác. Tất nhiên, các chủ thể này được nêu trong ví dụ phải có năng lực hành vi dân sự. Cần lưu ý là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự của chủ thể trong một số trường hợp nếu gây hậu quả đến mức độ nào đó có thể bị coi là vi phạm pháp luật khác. Ví dụ, một người đã xâm phạm quyền tác giả, nếu ở mức độ nhẹ thì có thể bị khởi kiện dân sự và được xác định là vi phạm pháp luật dân sự. Khi đó người vi phạm quyền tác giả có thể chỉ bị yêu cầu xin lỗi, bồi thường cho tác giả và cải chính công khai những thông tin sai lệch nhưng nếu mức độ nghiêm trọng thì chủ thể có hành vi xâm phạm quyền tác giả có thể bị xử lý hành chính và cao hơn có thể trở thành tội phạm và bị xử lý bằng trách nhiệm hình sự.
2. Trách niệm pháp lý
2.1. Khái niệm trách nhiệm pháp lý
Trách nhiệm pháp lý ở mức độ chung có thể được coi như một nghĩa vụ pháp lý đặc biệt của cá nhân, tổ chức nào đó trong những trường hợp mà pháp luật xác định cho họ. Nó phản ánh thái độ cũng như yêu cầu của Nhà nước trước những tình huống nhất định đặt ra cho chủ thể đó và nó có thể được tiếp cận ở nhiều nghĩa.
Theo nghĩa thứ nhất, trách nhiệm pháp lý của một chủ thể là việc chủ thể đó phải thực hiện một nghĩa vụ pháp lý nhất định mà pháp luật quy định cho họ trong các quy phạm pháp luật, chẳng hạn như việc tòa án có trách nhiệm tống đạt quyết định xét xử đến đương sự hay bị cáo trong một thời gian nhất định trước thời điểm đưa vụ án ra xét xử.
Theo nghĩa thứ hai, trách nhiệm pháp lý của một chủ thể là việc chủ thể phải thực hiện một mệnh lệnh cụ thể của cơ quan, tổ chức hay cá nhân có thẩm quyền, chẳng hạn chiến sĩ có trách nhiệm thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy đơn vị.
Theo nghĩa thứ ba, trách nhiệm pháp lý của một chủ thể là việc bắt buộc chủ thể đó phải gánh chịu một nghĩa vụ tài sản nào nó, chẳng hạn việc cha mẹ bồi thường cho con chưa thành niên khi con gây ra một thiệt hại cho người khác hay công ty bảo hiểm có trách nhiệm chi trả bồi thường cho người thứ ba khi phát sinh sự kiện bồi thường do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Theo nghĩa thứ tư, trách nhiệm pháp lý của một chủ thể là sự bắt buộc phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi được pháp luật quy định trong các chế tài của pháp luật khi chủ thể đó vi phạm pháp luật, chẳng hạn việc một người phạm tội phải chịu hình phạt tù về tội mà họ đã phạm.
Theo nghĩa chung, trách nhiệm pháp lý có thể được hiểu là một nghĩa vụ đặc biệt đòi hỏi một chủ thể phải thực hiện trước Nhà nước hay trước chủ thể có quyền theo quy định của pháp luật. Nói cách khác, trách nhiệm pháp lý của một chủ thể nói chung là sự bắt buộc chủ thể phải thực hiện một nghĩa vụ của pháp luật hoặc phải gánh chịu một hậu quả pháp lý.
Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý, người ta thường nói tới trách nhiệm pháp lý ở nghĩa thứ ba và thứ tư trên đây. Trách nhiệm pháp lý theo nghĩa này có một số đặc điểm sau đây:
- Trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật là hậu quả pháp lý bất lợi xảy ra cho chủ thể đó. Một chủ thể phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý là bởi vì họ đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Hậu quả pháp lý bất lợi đó có thể là sự mất đi giá trị vật chất nhất định như tài sản bị tịch thu hoặc tiền phạt, có thể là sự hạn chế hoặc bị tước những quyền hay tự do nhất định của con người như quyền sống, quyền tự do thân thể… do sự trừng phạt của chủ thể có quyền. Pháp luật có qui định cụ thể về từng hành vi bị coi là vi phạm pháp luật cũng như hậu quả pháp lý tiêu cực mà chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu về hành vi đó. Những hành vi tuy có thể gây ra những thiệt hại nhất định cho xã hội nhưng nếu không bị pháp luật coi là vi phạm (như hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết hoặc do phòng vệ chính đáng) sẽ không làm phát sinh trách nhiệm pháp lý; cũng như trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó thì không phải chịu trách nhiệm pháp lý. Những trường hợp này đã được pháp luật loại trừ tính nguy hiểm của hành vi hoặc chủ thể không bị coi là có lỗi nên không gắn với hậu quả pháp lý bất lợi cho chủ thể thực hiện hành vi gây thiệt hại.
- Trách nhiệm pháp lý thể hiện thái độ phản ứng của Nhà nước và xã hội đối với chủ thể vi phạm pháp luật. Nói chung, vi phạm pháp luật có thể gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại cho xã hội. Chính điều đó làm cho Nhà nước với tư cách là người duy trì và bảo vệ trật tự xã hội phải có biện pháp vừa để ngăn chặn, vừa có thái độ lên án, trừng trị đối với chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy, hành vi nào mà Nhà nước xác định có tính nguy hiểm thì mới coi là vi phạm pháp luật để xác định biện pháp trách nhiệm pháp lý ở bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật, trong đó hành vi nào có tính nguy hiểm cao hơn thì gắn với hậu quả pháp lý nặng hơn, thể hiện thái độ nghiêm khắc của Nhà nước ở mức cao hơn.
- Trách nhiệm pháp lý luôn mang tính bất lợi đối với chủ thể phải gánh chịu và buộc phải chấp nhận. Chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý sẽ phải gánh chịu những thiệt hại nhất định về quyền, tự do, tài sản, tinh thần, sức khoẻ, thậm chí kể cả tính mạng của chủ thể vi phạm pháp luật được quy định từ trước và khi có vi phạm pháp luật xảy ra, buộc họ phải chấp nhận. Chủ thể nào có hành vi nguy hiểm hơn, gây ra thiệt hại hoặc có nguy cơ gây ra thiệt hại lớn hơn sẽ phải gánh chịu những biện pháp trách nhiệm pháp lý nặng nề hơn, thể hiện ở hậu quả pháp lý xấu hơn. Nó tương ứng với mức độ tiêu cực của vi phạm pháp luật mà chủ thể đã thực hiện .
- Trách nhiệm pháp lý là một loại nghĩa vụ đặc biệt, phát sinh khi có vi phạm pháp luật. Chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý phải thực hiện những xử sự bắt buộc nhất định có tính bất lợi cho chính họ… trước một chủ thể khác, có thể là Nhà nước như trong lĩnh vực hình sự, hành chính hoặc cá nhân, tổ chức xác định trong lĩnh vực dân sự. Như vậy, trách nhiệm pháp lý là nghĩa vụ mà chủ thể vi phạm pháp luật phải thực hiện trước Nhà nước hoặc trước cá nhân, tổ chức có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại. Nghĩa vụ này không được gắn với bất kỳ quyền nào tương ứng như trong các quan hệ pháp luật khác. Nói cách khác, đó là nghĩa vụ một chiều của chủ thể vi phạm pháp luật.
- Trách nhiệm pháp lý được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Trong lĩnh vực hình sự, hành chính hay kỷ luật nhà nước, khi đã xác định trách nhiệm pháp lý cho một chủ thể vi phạm pháp luật nào đó, những chủ thể có thẩm quyền nhân danh Nhà nước cưỡng chế họ phải thực hiện. Trong lĩnh vực dân sự, nếu chủ thể vi phạm pháp luật đã bị xác định trách nhiệm pháp lý mà không tự giác thực hiện thì Nhà nước sẽ can thiệp để bảo đảm cho chúng được thực hiện.
2.2. Các loại trách nhiệm pháp lý
Với vi phạm pháp luật, tùy theo những mức độ nguy hiểm, tính chất tiêu cực khác nhau mà có những phản ứng từ phía Nhà nước là khác nhau và làm hình thành những loại trách nhiệm pháp lý khác nhau. Theo quan điểm truyền thống và có tính phổ biến, tương ứng với bốn loại vi phạm pháp luật đã nêu ở trên là bốn loại trách nhiệm pháp lý. Đó là trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật nhà nước và trách nhiệm dân sự. Một hành vi vi phạm pháp luật có thể đồng thời xâm hại một hoặc nhiều quan hệ xã hội, vì vậy, với một hành vi vi phạm pháp luật, chủ thể có thể phải gánh chịu một hoặc nhiều loại trách nhiệm pháp lý. Nhưng nếu chủ thể đã gánh chịu trách nhiệm hình sự thì không phải chịu trách nhiệm hành chính và ngược lại, vì đây là trách nhiệm của chủ thể vi phạm pháp luật trước Nhà nước chứ không phải là trước các chủ thể khác.
a) Trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với các chủ thể đã thực hiện hành vi phạm tội. Hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu có thể là bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt tù có thời hạn hoặc không thời hạn, tử hình… Đây là loại trách nhiệm pháp lý nặng nhất, thể hiện thái độ nghiêm khắc nhất của Nhà nước đối với người vi phạm pháp luật.
b) Trách nhiệm hành chính được áp dụng đối với chủ thể đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính. Chủ thể phải chịu trách nhiệm hành chính phải gánh chịu các biện pháp chế tài pháp luật như cảnh cáo, phạt tiền, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề… Mức độ của trách nhiệm hành chính nhẹ hơn trách nhiệm hình sự vì vi phạm hành chính ít nguy hiểm hơn so với tội phạm.
c) Trách nhiệm kỷ luật nhà nước được áp dụng đối với các chủ thể vi phạm kỷ luật nhà nước. Trách nhiệm pháp lý loại này có thể xuất hiện cùng với các loại trách nhiệm còn lại nếu có hành vi phạm tội, vi phạm hành chính hay vi phạm dân sự mà đồng thời cũng vi phạm kỷ luật nhà nước. Trách nhiệm kỷ luật nhà nước bao gồm những biện pháp cưỡng chế nhà nước như cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch, cách chức, buộc thôi việc, buộc thôi học… Trong một số trường hợp, nếu vi phạm kỷ luật mà có gây thiệt hại cho cơ quan đơn vị tới một mức độ nào đó thì theo quy định của pháp luật, người vi phạm còn phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý khác. Ví dụ, một công chức do có thù tức với người lãnh đạo đã ngầm làm cho hư hỏng máy tính của cơ quan và làm mất tài liệu thì chủ thể này có thể bị áp dụng cả hình phạt tù (trách nhiệm hình sự) cho tội hủy hoại tài sản, vừa phải bồi thường về tài sản bị hư hỏng (trách nhiệm dân sự), vừa có thể bị buộc thôi việc (trách nhiệm kỷ luật).
d) Trách nhiệm dân sự được áp dụng đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại tới quyền dân sự của chủ thể khác, nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho bên có quyền dân sự bị xâm phạm. Nó thường là sự đền bù ngang giá để khôi phục lợi ích đã bị xâm phạm theo quy định của pháp luật hoặc theo sự thỏa thuận. Trách nhiệm dân sự được áp dụng không chỉ trong trường hợp chủ thể có vi phạm dân sự mà kể cả trường hợp chủ thể có vi phạm khác, nếu những hành vi này xâm hại đến quyền dân sự của cá nhân, tổ chức trong xã hội. Chủ thể chịu trách nhiệm dân sự phải thực hiện nghĩa vụ hoặc gánh chịu một số hậu quả pháp lý như buộc chấm dứt hành vi vi phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thường thiệt hại; phạt vi phạm…
2.3. Truy cứu trách nhiệm pháp lý
a) Khái niệm truy cứu trách nhiệm pháp lý
Truy cứu trách nhiệm pháp lý là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền trong việc xác định các biện pháp trách nhiệm pháp lý cho chủ thể vi phạm pháp luật theo những trình tự, thủ tục được pháp luật quy định.
Vi phạm pháp luật là một dạng lệch chuẩn xã hội thường để lại hoặc có nguy cơ gây ra hậu quả tiêu cực cho xã hội, Nhà nước hay các cá nhân, tổ chức. Các chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu trách nhiệm về những hành vi ấy. Tuy nhiên, hầu hết họ không tự giác thực hiện trách nhiệm đó nên thường tìm cách che giấu hành vi vi phạm pháp luật nhằm trốn tránh hay thoái thác trách nhiệm. Chính vì vậy, các chủ thể có thẩm quyền, trong phạm vi chức năng, quyền hạn của mình, tiến hành các hoạt động buộc các chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả pháp lý. Truy cứu trách nhiệm pháp lý thực chất là tổng hợp các hoạt động nghiên cứu các tình tiết của vụ việc vi phạm pháp luật đã xảy ra, qua đó đánh giá, xem xét tính chất, mức độ của vi phạm pháp luật đó để buộc chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu biện pháp trách nhiệm pháp lý tương ứng để hiện thực hóa các chế tài pháp luật theo những trình tự, thủ tục được pháp luật quy định.
Truy cứu trách nhiệm pháp lý có ý nghĩa chủ yếu là nhằm bảo vệ trật tự pháp luật, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức trong xã hội, bảo đảm cho các quan hệ xã hội diễn ra trong ổn định, trật tự và phát triển một cách bình thường, có thể khôi phục những quan hệ xã hội đã bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại. Đồng thời, truy cứu trách nhiệm pháp lý nhằm xử lý người vi phạm pháp luật, trừng phạt họ, qua đó nhằm cải tạo, giáo dục họ, ngăn chặn sự tiếp tục vi phạm pháp luật của họ. Ngoài ra, truy cứu trách nhiệm pháp lý còn có ý mục đích răn đe, phòng ngừa vi phạm pháp luật có thể xảy ra trong xã hội, làm cho các chủ thể khác nhận thức được tính nghiêm minh của luật pháp mà không dám vi phạm pháp luật.
Truy cứu trách nhiệm pháp lý là một hoạt động áp dụng pháp luật đặc biệt trong trường hợp có vi phạm pháp luật, nên nó mang đầy đủ các đặc điểm của hoạt động áp dụng pháp luật nói chung, đồng thời có một số đặc điểm riêng sau đây:
- Truy cứu trách nhiệm pháp lý là việc xem xét để áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước nhằm hiện thực hóa các chế tài pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật. Hoạt động này luôn đưa đến những hậu quả bất lợi cho chủ thể vi phạm pháp luật. Đó là các biện pháp cưỡng chế có tính chất tước đoạt hoặc làm hạn chế các quyền, tự do, các lợi ích nhất định mà nếu không vi phạm pháp luật thì chủ thể không phải gánh chịu những biện pháp đó.
- Truy cứu trách nhiệm pháp lý là việc cơ quan hay nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể vi phạm pháp luật thực hiện bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật. Vì vậy, chủ thể vi phạm pháp luật vừa là đối tượng bị trừng phạt, giáo dục vừa là chủ thể chấp hành pháp luật.
- Truy cứu trách nhiệm pháp lý là hoạt động phải tuân thủ những trình tự, thủ tục hết sức chặt chẽ do pháp luật quy định. Truy cứu trách nhiệm pháp lý thực chất là việc xem xét để áp dụng biện pháp cưỡng chế nhà nước đưa đến những hậu quả bất lợi cho chủ thể vi phạm pháp luật mà nếu sai sót thì khó hoặc không thể khắc phục được. Vì vậy, để đảm bảo tính chính xác, đúng đắn của hoạt động này, hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót có thể xảy ra, truy cứu trách nhiệm pháp lý đòi hỏi cơ quan, nhà chức trách có thẩm quyền phải tiến hành đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật đã quy định.
- Truy cứu trách nhiệm pháp lý đòi hỏi phải tìm ra và làm rõ sự thật khách quan những tình tiết và biểu hiện của vi phạm pháp luật. Cơ quan hay nhà chức trách có thẩm quyền và những cá nhân, tổ chức có liên quan tiến hành thu thập và xử lý thông tin, xem xét một cách toàn diện và kỹ lưỡng nội dung vụ việc nhằm xác định tính chân thực trong vụ việc. Cơ quan hay nhà chức trách có thẩm quyền và những chủ thể có liên quan phải lật lại một cách cụ thể tất cả các tình tiết, sự việc, chứng cứ… liên quan đến vụ việc đã xảy ra để khẳng định hay bác bỏ giả thiết về vụ việc vi phạm pháp luật. Đối với các vi phạm pháp luật hình sự, hành chính hay kỷ luật nhà nước, nghĩa vụ chứng minh có vi phạm pháp luật hay không thuộc về các chủ thể tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lý. Ngược lại, việc chứng minh có vi phạm pháp luật trong lĩnh vực dân sự hay không lại thường thuộc về đương sự trong các quan hệ dân sự. Các chủ thể tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lý có thể hỗ trợ đương sự để tìm ra sự thật khách quan bằng các biện pháp chuyên môn nghiệp vụ.
b) Các yêu cầu đối với truy cứu trách nhiệm pháp lý
Với những đặc điểm như trên, các hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý phải bảo đảm các yêu cầu cơ bản sau:
- Bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý. Hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý phải được tiến hành bởi chủ thể có thẩm quyền, theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định, có căn cứ pháp lý vững chắc, đúng người, đúng vi phạm, không bỏ sót người vi phạm pháp luật nhưng cũng không được làm oan, bảo đảm tính công bằng.
- Bảo đảm tính hợp lý trong hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý, nghĩa là quyết định áp dụng pháp luật được ban hành khi truy cứu trách nhiệm pháp lý phải phù hợp với các điều kiện hiện thực để có thể thi hành được đồng thời phải bảo đảm tính có lợi nhất về tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội.
- Bảo đảm nguyên tắc nhân đạo trong hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý. Hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý phải được tiến hành trên cơ sở tôn trọng các quyền, các giá trị con người. Không áp dụng những biện pháp cưỡng chế có tính chất làm nhục con người. Nghiêm trị kẻ chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố, chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm và vi phạm pháp luật có tính chuyên nghiệp. Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, ăn năn hối cải, lập công, tự nguyện sửa chữa hoặc chủ động bồi thường thiệt hại gây ra…
- Hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý phải được tiến hành kịp thời, nhanh chóng, nhằm bảo đảm việc thu thập thông tin được đầy đủ, chính xác, ngăn chặn các vi phạm pháp luật tương tự có thể xảy ra cũng như ngăn ngừa hiện tượng tiêu cực trong quá trình truy cứu trách nhiệm pháp lý, qua đó thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Đây cũng là một đòi hỏi nhằm tăng cường trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền khi truy cứu trách nhiệm pháp lý.
c) Căn cứ truy cứu trách nhiệm pháp lý
Truy cứu trách nhiệm pháp lý là hoạt động phức tạp và thường gây ra những hậu quả pháp lý nhất định cũng như ảnh hưởng đến đời sống xã hội. Để bảo đảm cho việc truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật chính xác cần phải tiến hành dựa trên những căn cứ nhất định. Đó là căn cứ pháp lý và căn cứ thực tế.
Căn cứ pháp lý của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý là tổng hợp các quy định của pháp luật được các chủ thể tiến hành sử dụng làm căn cứ cho tất cả các hoạt động trong quá trình truy cứu trách nhiệm pháp lý. Căn cứ pháp lý được pháp luật xác định bao gồm:
- Căn cứ về hình thức, đó là các quy định của pháp luật hiện hành xác định các vấn đề như thẩm quyền của chủ thể tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lý, trình tự, thủ tục, cách thức tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lý. Ví dụ, khi truy cứu trách nhiệm hình sự thì áp dụng pháp luật tố tụng hình sự để xác định chủ thể nào, khi nào và làm thế nào để khởi tố, tạm giam, tạm giữ, điều tra, truy tố, xét xử đối với người vi phạm pháp luật hình sự. Những quy định này thường được gọi là pháp luật về tố tụng hay pháp luật về thủ tục.
- Căn cứ về nội dung, đó là các quy định của pháp luật hiện hành xác định hành vi nào là vi phạm pháp luật, trách nhiệm pháp lý tương ứng với hành vi đó, những tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ mức độ gánh chịu hoặc loại trừ trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật, những nguyên tắc áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý… Trong một số trường hợp, có thể áp dụng hiệu lực hồi tố của văn bản pháp luật hiện hành đối với những vi phạm pháp luật đã xảy ra trước khi nó có hiệu lực theo điều kiện mà pháp luật quy định. Ví dụ, một tội phạm được thực hiện tại thời điểm mà luật cũ đang có hiệu lực nhưng khi truy cứu trách nhiệm pháp lý cho hành vi này thì luật mới đã có hiệu lực và không coi nó là tội phạm nữa hoặc có thể có khung hình phạt nhẹ hơn thì áp dụng luật mới để miễn truy cứu trách nhiệm pháp lý hoặc áp dụng trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn.
- Thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý: Đó là một khoảng thời gian nhất định do pháp luật quy định mà trong khoảng thời hạn đó, chủ thể có thẩm quyền được phép truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm. Nếu hết thời hạn đó thì chủ thể vi phạm pháp luật không bị truy cứu trách nhiệm pháp lý nữa. Tùy loại vi phạm mà pháp luật quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý khác nhau. Có các loại thời hiệu ngắn, dài khác nhau. Có những vi phạm pháp luật không quy định thời hiệu. Ví dụ, trong truy cứu trách nhiệm hành chính thì chú ý có hai loại thời hiệu là một năm và hai năm tùy theo từng loại vi phạm được xác định trong Luật xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ thực tế của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý chính là vi phạm pháp luật đã xảy ra trên thực tế được biểu hiện qua các yếu tố cấu thành của vi phạm pháp luật cụ thể đó. Các căn cứ đó được xác định như sau:
- Mặt khách quan của vi phạm pháp luật
Có thể nói, hành vi trái pháp luật là điều kiện bắt buộc của bất kỳ vi phạm pháp luật nào và được xác định là căn cứ đầu tiên làm cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm pháp lý. Nếu không xác định được hành vi trái pháp luật thì không thể tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lý. Hành vi trái pháp luật đó phải có đặc trưng riêng biệt để nhận biết về vi phạm pháp luật cần xác định. Do đó, cần đối chiếu một cách toàn diện và thận trọng những biểu hiện thực tế tính trái pháp luật của hành vi đã được thực hiện với các quy phạm pháp luật có nội dung liên quan. Ví dụ, muốn xác định có tội cướp xảy ra hay không phải xác định có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hay dùng những thủ đoạn khác làm cho nạn nhân không thể chống cự do bị làm tê liệt ý chí hoặc không có khả năng để chống lại. Đối với các tội về chiếm đoạt tài sản, tuy đều có hành vi chiếm đoạt tài sản một cách bất hợp pháp nhưng nếu là tội trộm cắp tài sản thì hành vi phải có sự lén lút, nếu là tội lừa đảo thì phải có hành vi gian dối làm cho người có tài sản tin tưởng…
Tính chất, phương pháp, thủ đoạn thực hiện hành vi cũng là căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lý bởi đó là những yếu tố có ý nghĩa quan trọng để đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi làm cơ sở cho việc xác định biện pháp cưỡng chế cụ thể. Tính chất trái pháp luật càng nghiêm trọng, thủ đoạn càng tinh vi thì vi phạm pháp luật càng có tính nguy hiểm cho xã hội. Khi đó, cần áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý nặng hơn, ví dụ khi thực hiện hành vi giết người nhưng dùng thủ đoạn có nguy cơ gây ra cái chết cho nhiều người như cho thuốc trừ sâu vào giếng nước ăn của một gia đình hay một cộng đồng.
Hậu quả là một căn cứ rất quan trọng khi tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lý. Đó có thể là những thiệt hại cho xã hội mà hành vi trái pháp luật gây ra, phản ánh trạng thái hay mức độ tác động của hành vi trái pháp luật lên các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Hậu quả có thể là thiệt hại thực tế đã xảy ra hoặc có nguy cơ đe dọa đối với sự an toàn của quan hệ xã hội được bảo vệ hay sự tôn nghiêm của pháp luật bị coi thường. Mức độ thiệt hại có ý nghĩa quan trọng để xác định loại cũng như mức độ trách nhiệm pháp lý, có thể dựa vào đó để quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế nhà nước cụ thể. Ví dụ, nếu thiệt hại thấp hoặc không đáng kể thì chỉ xử lý vi phạm hành chính nhưng nếu ở mức độ cao hơn thì phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngay trong vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm) cũng có các mức độ trách nhiệm pháp lý khác nhau tương ứng với thiệt hại xảy ra ở từng tội cụ thể như ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, chỉ có thể coi thiệt hại đã xảy ra là căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lý nếu nó có quan hệ nhân quả với hành vi trái pháp luật. Bởi lẽ, một người sẽ không phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại không phải do hành vi của mình gây ra và pháp luật cũng không thể buộc một người phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại đó. Những thiệt hại thực tế xảy ra có thể có từ những nguyên nhân khác nhau mà không phải từ hành vi trái pháp luật. Thiệt hại chỉ có thể có quan hệ nhân quả và có ý nghĩa trong việc xác định mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật khi nó xảy ra sau hành vi và có tính tất yếu. Nhiều khi, hành vi trái pháp luật chỉ là điều kiện cho nguy cơ xảy ra thiệt hại chứ không phải là nguyên nhân nếu chúng không có quan hệ sản sinh. Vì vậy, khi truy cứu trách nhiệm pháp lý, phải dựa vào thiệt hại thực tế đã bị gây ra bởi hành vi vi phạm chứ không được suy diễn hậu quả.
Ngoài ra, cũng cần chú ý đến việc chủ thể đã sử dụng công cụ, phương tiện gì để thực hiện hành vi vi phạm. Việc sử dụng công cụ, phương tiện cho thấy người vi phạm thường thể hiện tính chủ động, có sự chuẩn bị cho vi phạm một cách có ý thức và vì vậy nguy cơ gây thiệt hại cũng cao hơn và cũng có liên quan đến cách thức và thủ đoạn vi phạm, ví dụ nếu trộm cắp có mang theo kìm cộng lực để cắt khóa để xâm nhập, hay dùng chìa khóa vạn năng để trộm cắp xe máy… Khi đó, vi phạm pháp luật có tính nguy hiểm cao hơn nên trách nhiệm pháp lý phải nặng hơn. Những yếu tố như thời gian, điều kiện, hoàn cảnh hay thủ đoạn vi phạm pháp luật cũng cần phải được xem xét một cách toàn diện khi truy cứu trách nhiệm pháp lý. Ví dụ, thời gian xảy ra vi phạm có liên quan đến độ tuổi chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể, thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý. Theo quy định của pháp luật, một chủ thể sẽ chịu trách nhiệm hình sự bắt đầu từ đủ 14 tuổi và tương ứng với các mức độ tuổi đủ 14 đến dưới 16, từ đủ 16 đến dưới 18, từ đủ 18 tuổi trở lên là mức độ chịu trách nhiệm hình sự khác nhau, do vậy, thời điểm thực hiện vi phạm pháp luật có quan hệ chặt chẽ với độ tuổi cần xác định để truy cứu trách nhiệm pháp lý.
- Chủ thể vi phạm pháp luật: Đối với chủ thể là cá nhân, khi tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lý, người có thẩm quyền phải căn cứ vào năng lực trách nhiệm pháp lý của họ. Đó là khả năng gánh chịu hậu quả pháp lý từ hành vi mà chủ thể thực hiện được xác định trên cơ sở độ tuổi, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của họ. Do đó, có những chủ thể tuy thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, có tính trái pháp luật nhưng họ không phải là chủ thể của vi phạm pháp luật hoặc chỉ chịu trách nhiệm một phần về hậu quả của hành vi đó. Đối với một vi phạm pháp luật thì chủ thể nhất định phải có năng lực trách nhiệm pháp lý. Thông thường năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể là cá nhân được xác định thông qua các yếu tố tuổi tác, nhận thức, sức khỏe, tâm lý… Đối với chủ thể vi phạm pháp luật là tổ chức thì việc xác định địa vị pháp lý của tổ chức phải căn cứ vào quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của tổ chức xem họ có tư cách pháp nhân hay không và thuộc loại hình nào, trong đó dấu hiệu về tài sản của tổ chức có vai trò đặc biệt quan trọng.
Bên cạnh đó, chủ thể thực hiện hành vi cũng có nhiều điều kiện khác nhau về nhận thức, vốn sống, hoàn cảnh hay những vấn đề nhân thân tốt, xấu khác nhau. Việc họ thực hiện hành vi vi phạm pháp luật có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Điều đó ít nhiều ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật. Người có nhân thân tốt thì thường có hành vi ít nguy hiểm hơn và ngược lại. Người có hiểu biết hạn chế hay có hoàn cảnh khó khăn mà vi phạm thì cũng là điều có thể giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý cho họ… Có những người tái phạm hay vi phạm có tính chất chuyên nghiệp, tinh vi… là những người có thái độ chống pháp luật rõ ràng và có khả năng che giấu hành vi mà mình thực hiện đến cùng thì tính chất nguy hiểm của vi phạm pháp luật thường cao hơn nên trách nhiệm pháp lý của họ sẽ nặng hơn. Đó là những căn cứ quan trọng để xác định mức độ trách nhiệm tương ứng cho người vi phạm.
Đối với chủ thể vi phạm pháp luật chưa đủ tuổi theo pháp luật quy định là phải chịu trách nhiệm pháp lý cụ thể nào đó thì không được tiến hành áp dụng biện pháp trách nhiệm pháp lý đó. Độ tuổi của chủ thể cũng là căn cứ quan trọng để cơ quan hay nhà chức trách có thẩm quyền xác định biện pháp cưỡng chế nhà nước hoặc các biện pháp pháp lý cụ thể khác có thể được áp dụng. Nếu chủ thể không có khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi ở thời điểm thực hiện hành vi trái pháp luật hoặc thời điểm truy cứu trách nhiệm pháp lý thì có thể không được tiến hành hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý hoặc phải tạm dừng hay chấm dứt hoạt động đó... Khi xem xét tuổi của chủ thể khi thực hiện hành vi trái pháp luật thì còn phải chú ý thời điểm họ thực hiện hành vi đó liên quan đến mặt khách quan của vi phạm pháp luật đã nêu ở trên. Một người thực hiện một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có khung hình phạt tử hình nhưng khi thực hiện hành vi phạm tội họ chưa đủ 18 tuổi thì chỉ được áp dụng hình phạt tối đa là 18 năm tù. Một người vi phạm hành chính khi họ chưa đủ 16 tuổi thì không áp dụng hình thức phạt tiền đối với họ.
Đối với một tổ chức, việc có tư cách pháp nhân hay không cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm pháp lý, bởi vì theo thông lệ quốc tế, trách nhiệm pháp lý về tài sản của tổ chức có tư cách pháp nhân và tổ chức không có tư cách pháp nhân là khác nhau. Thậm chí đều có tư cách pháp nhân nhưng tư cách pháp nhân khác nhau thì các chủ thể cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lý khác nhau.
Ngoài ra, cần chú ý một số chủ thể đặc biệt. Tuy họ có đầy đủ những điều kiện nói chung nêu trên nhưng trong một số trường hợp pháp luật không xác định trách nhiệm pháp lý cho họ, chẳng hạn những người có chức phận ngoại giao thì có thể được miễn trừ trách nhiệm pháp lý hình sự hay hành chính theo pháp luật của nước sở tại. Một số trường hợp khác, chủ thể phải có thêm điều kiện khác mới có thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lý, chẳng hạn chỉ có thể truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với tội phản bội Tổ quốc cho người nào là công dân mà không thể truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với một người không có quốc tịch hoặc quốc tịch nước ngoài nếu họ có hành vi tương tự.
- Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật
+ Lỗi là yếu tố bắt buộc trong mọi trường hợp nếu muốn truy cứu trách nhiệm pháp lý. Không được truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với một chủ thể nếu khi thực hiện hành vi họ không có lỗi. Pháp luật có quy định các loại lỗi khác nhau dựa vào thái độ của chủ thể vi phạm đối với hành vi và hậu quả của hành vi mà họ thực hiện nhằm phân hóa mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật. Do đó, mỗi loại lỗi cụ thể xác định mức độ trách nhiệm pháp lý cho chủ thể để cơ quan hay nhà chức trách có thẩm quyền xác định biện pháp cưỡng chế nhà nước cụ thể đối với chủ thể vi phạm pháp luật. Trong lĩnh vực hình sự và hành chính, việc truy cứu trách nhiệm pháp lý nặng hay nhẹ một phần quan trọng là phải căn cứ vào lỗi của chủ thể vi phạm vì nó được coi là “thước đo trách nhiệm pháp lý”. Đối với lỗi cố ý, tính chất nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật sẽ cao hơn so với lỗi vô ý. Trong lỗi cố ý thì cố ý trực tiếp bao giờ cũng nặng hơn cố ý gián tiếp. Trong lĩnh vực dân sự, truy cứu trách nhiệm pháp lý chỉ cần xác định chủ thể vi phạm có lỗi là đủ điều kiện để truy cứu trách nhiệm dân sự.
+ Động cơ, mục đích vi phạm tuy không luôn là căn cứ bắt buộc trong mọi trường hợp khi truy cứu trách nhiệm pháp lý nhưng trong nhiều trường hợp nó có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định áp dụng biện pháp trách nhiệm pháp lý cụ thể đối với chủ thể vi phạm pháp luật. Động cơ là tình tiết giúp cho việc cân nhắc mức độ trách nhiệm pháp lý nặng hay nhẹ đối với chủ thể vi phạm pháp luật. Nếu vi phạm pháp luật có động cơ xấu thì trách nhiệm pháp lý dành cho chủ thể phải nặng hơn trường hợp thông thường vì khi đó, họ thường có thái độ quyết liệt hơn và nguy cơ gây hậu quả cũng lớn hơn. Nếu vi phạm pháp luật có mục đích thì chủ thể thường chủ động và có sự chuẩn bị kỹ hơn. Việc xác định mục đích từ trước cũng có vai trò làm cho việc xác định chủ thể vi phạm là có ý thức, thể hiện được thái độ rõ ràng đối với hành vi mà mình thực hiện nên cũng là một căn cứ xác định mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật và nếu có thì trách nhiệm pháp lý cũng nặng hơn.
- Khách thể của vi phạm pháp luật
Quan hệ xã hội là khách thể bị hành vi trái pháp luật xâm hại là căn cứ để cơ quan hay nhà chức trách có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm pháp lý xác định trách nhiệm pháp lý cho chủ thể nặng hay nhẹ. Tùy vào mức độ hay tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm hại mà chủ thể tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lý xác định cho người vi phạm biện pháp trách nhiệm pháp lý nặng hay nhẹ. Nếu quan hệ xã hội bị xâm hại nhưng không được pháp luật bảo vệ thì không được truy cứu trách nhiệm pháp lý, ví dụ, đối với một quan hệ đạo đức như phản bội người yêu. Mức độ quan trọng của khách thể vi phạm pháp luật có thể phụ thuộc vào thái độ của nhà nước trong từng giai đoạn, do vậy cũng có thể phải xem xét thêm cả chính sách của Nhà nước ở những thời điểm khác nhau để truy cứu trách nhiệm pháp lý cho phù hợp. Trong các khách thể ấy, có những quan hệ xã hội mà mức độ quan trọng rất cao, hành vi xâm hại quan hệ đó vì vậy bao giờ cũng có tính chất nguy hiểm hơn so với với hành vi xâm hại quan hệ xã hội khác. Chẳng hạn, những quan hệ xã hội thuộc nhóm an ninh quốc gia luôn là những quan hệ xã hội đặc biệt quan trọng, có tính chất bao trùm lên các quan hệ còn lại nên khi những quan hệ xã hội thuộc nhóm an ninh quốc gia bị xâm hại thì các quan hệ khác cũng có thể bị ảnh hưởng theo.
Chính vì vậy mà Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn coi nhóm tội xâm phạm đến quan hệ xã hội này là nghiêm trọng nhất và cũng có hình phạt nghiêm khắc nhất, thậm chí Hiến pháp năm 2013 còn trực tiếp xác định tại Điều 44 “phản bội Tổ quốc là tội năng nhất”. Đó chính là sự thể hiện thái độ của mỗi nhà nước đối với các chủ thể vi phạm pháp luật trong việc bảo vệ các quan hệ xã hội bị xâm hại với tầm quan trọng khác nhau của từng quan hệ. Điều đó phụ thuộc vào tính chất và tầm quan trọng của quan hệ xã hội đối với đời sống xã hội, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội cụ thể cũng như nhận thức của Nhà nước về các lợi ích cần bảo vệ bằng pháp luật. Ví dụ, hình phạt áp dụng cho người phạm tội giết người sẽ nặng hơn so với tội cố ý gây thương tích vì khách thể là tính mạng được coi là quan trọng hơn so với sức khỏe, do mất tính mạng không thể khôi phục còn mất sức khỏe thì có thể hồi phục, thương tích có thể lành. Vì vậy, xác định các biện pháp chế tài khi truy cứu trách nhiệm pháp lý, khách thể là quan hệ xã hội nào bị xâm hại có một ý nghĩa rất quan trọng.
B. TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT
1. Anh Đỗ Đức M, 28 tuổi, là công nhân đang làm việc cho một công ty xây dựng, do nghi ngờ anh Đặng Văn D là hàng xóm lấy trộm một số tài sản của mình nên đã cùng 3 công nhân khác cùng công ty, đều trên 20 tuổi dùng búa phá cổng vào nhà anh D đòi lục soát giữa lúc gia đình anh D đang ăn cơm tối. Anh D phản ứng không cho M vào nhà mình, M đã lớn tiếng chửi bới, dọa nạt anh D và tiếp tục xông vào nhà anh D và lục soát, xới tung đồ đạc nhà anh D.
Hỏi: M và nhóm người trên có vi phạm pháp luật không? Nếu vi phạm thì bị xử lý thế nào?
Trong trường hợp này, M và đồng bọn đã cố ý phá cổng nhà của anh D, chửi bới dọa nạt và khám xét nhà của anh D. M và đồng bọn có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự vì đủ độ tuổi (đều trên 20 tuổi) có năng lực nhận thức hoàn toàn bình thường (đang làm công nhân của một công ty).
M và 3 người công nhân này đã phạm tội xâm phạm chỗ ở của người khác theo quy định của Điều 158 Bộ luật hình sự năm 2015 và sẽ bị xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều luật này, cụ thể như sau.
Khoản 1 Điều 158 quy định:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm chỗ ở của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác;
b) Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực, gây sức ép về tinh thần hoặc thủ đoạn trái pháp luật khác buộc người khác phải rời khỏi chỗ ở hợp pháp của họ;
c) Dùng mọi thủ đoạn trái pháp luật nhằm chiếm, giữ chỗ ở hoặc cản trở trái phép, không cho người đang ở hoặc quản lý hợp pháp chỗ ở được vào chỗ ở của họ;
d) Tự ý xâm nhập chỗ ở của người khác mà không được sự đồng ý của chủ nhà hoặc người quản lý hợp pháp”.
2. Trần Quang T. là đại biểu Hội đồng nhân dân xã, vì nghi ngờ cháu Q 16 tuổi trộm cắp ti vi của nhà mình nên T. đã lừa cháu sang nhà mình rồi nhốt lại và dùng roi mây tra khảo nhằm buộc cháu Q phải nhận đã trộm cắp ti vi nhà mình. Vì cháu Q không lấy nên không nhận, T. đã giữ cháu Q ở nhà mình 2 ngày sau mới tha cho về nhà. Hành vi này của T. đã bị phát hiện. Cháu Q bị thâm tím một số chỗ trên cơ thể, thương tích không đáng kể.
Hỏi : T phạm tội gì ?
Đây là hành vi phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật theo quy định tại Điều 157 Bộ luật hình sự 2015
Khoản 1 Điều 157: “1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
3. Ông A (45 tuổi) và bà B (42 tuổi) có hai người con là C (20 tuổi) và D (17 tuổi). D là học sinh giỏi 8 năm liền tuy nhiên sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học thì ông A, bà B không cho đi học tiếp mà bắt ở nhà giúp việc cho tiệm bún mở tại gia. Tiền của hai ông bà dồn cả vào cho C đi học đại học tự túc ở nước ngoài. Ông bà thường xuyên nói với hàng xóm rằng vì D là con gái nên chỉ cần cho học mức độ để còn lấy chồng, còn lại phải đầu tư cho tương lai của C vì là con trai trưởng. D lén đi thi đại học và đỗ nguyện vọng 1. Ngoài giúp việc tại tiệm bún D còn đi làm thêm ở bên ngoài để tự kiếm tiền trang trải học phí cho học kỳ đầu tiên. Tuy nhiên khi phát hiện ra, ông A và bà B lại bắt D nghỉ học, dẫn đến mâu thuẫn gia đình.
Hỏi: Ông A và bà B có vi phạm pháp luật không ?
Ông A và bà B đã vi phạm pháp luật (cụ thể là vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình), thể hiện qua:
- Mặc dù nhận thức được việc phân biệt đối xử của mình (thừa nhận với hàng xóm) nhưng Ông A và bà B vẫn quyết tâm ngăn cấm, cản trở việc thực hiện quyền học tập của D trong khi đó vẫn tạo mọi điều kiện cho C được học tập . Đây là hành vi xâm hại đến quyền học tập, quyền được đối xử bình đẳng của D.
Cả hai ông bà đều đạt đến độ tuổi pháp luật quy định, điều kiện sức khỏe và trí tuệ bình thường nên phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Ông bà sẽ bị xử lý theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 13 Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới, như sau:
“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
c) Không chăm sóc, giáo dục, tạo điều kiện như nhau giữa nam và nữ trong gia đình về học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển.”
4. Ông X (52 tuổi) là đại tá quân đội, gia đình ông có căn nhà 3 tầng xây từ năm 2003 nằm trên dãy nhà mặt phố thuộc khu tập thể Z. Đến năm 2015, con trai lớn của ông X kết hôn và 2 vợ chồng anh này chuyển về sống cùng ông bà. Ông X thuê thợ về sửa nhà, cơi nới thêm 2 tầng nữa để có thêm không gian sinh hoạt. Do khoảng không trước nhà hạn chế nên ông chỉ tập kết được gạch còn cát, sỏi ông cho đổ sang phía bên hông phải nhà mình. Đống cát nhà ông X khiến cho việc đỗ xe ô tô của nhà ông Y kế bên trở nên hết sức khó khăn. Ông Y rất bức xúc và nhiều lần góp ý trực tiếp với ông X nhưng không có kết quả dẫn đến mâu thuẫn.
Ông X có vi phạm pháp luật không?
Ông X vi phạm pháp luật (cụ thể là vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai), thể hiện qua:
- Mặc dù ông X biết rõ khu vực đổ cát, sỏi không phải là khoảnh đất nhà mình và việc đổ cát sỏi sẽ gây khó khăn thậm chí nguy hiểm cho hành xóm nhưng vẫn chỉ đạo việc đổ cát, sỏi lên khu vực đất đó, gây cản trở việc sử dụng đất của người khác.
- Ông X, hiện là sỹ quan đương chức, mặc nhiên đáp ứng các điều kiện về độ tuổi, nhận thức… do đó, ông phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với những hành vi của mình.
Do vậy, hành vi của ông X sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai theo quy định tại Khoản 1 Điều 11 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai “Điều 11. Gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác”, cụ thể , như sau:
“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng tại khu vực nông thôn, phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng tại khu vực đô thị đối với hành vi đưa chất thải, chất độc hại, vật liệu xây dựng hoặc các vật khác lên thửa đất của người khác hoặc thửa đất của mình gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác.”
C. VĂN BẢN PHÁP LUẬT
I. BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015
II. LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN THI HÀNH
Quy định chung
- Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012
- Nghị quyết số 24/2012/QH13 ngày 20/6/2012 của Quốc hội về việc thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính
- Nghị định số 02/2014/NĐ-CP ngày 10/01/2014 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc
- Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Nghị định số 165/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và danh mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông và bảo vệ môi trường
- Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn
- Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính
Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong một số lĩnh vực cụ thể
- Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
- Nghị định số 65/2015/NĐ-CP ngày 07/8/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước
- Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình
- Nghị định số 162/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trên các vùng biển, đảo và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo
- Nghị định số 144/2013/NĐ-CP ngày 29/10/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em
- Nghị định số 138/2013/NĐ-CP ngày 22/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục
- Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan
- Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Chuyên đề 6
NHỮNG NỘI DUNG PHÁP LUẬT KHÁC LIÊN QUAN
MỤC LỤC
Trang
Phần thứ nhất. Pháp luật về khiếu nại
371
I. KIẾN THỨC PHÁP LUẬT………………………………………………...
371
I. Khái niệm khiếu nại…………………………………………………………..
371
I. Khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính ….………………….
371
II. Giải quyết khiếu nại……..………………………………………………….
371
B. Văn bản pháp luật…………………………………………………………….
385
Phần thứ hai. Pháp luật về tố cáo……………………………………………..
386
I. KIẾN THỨC PHÁP LUẬT………………………………………………...
386
I. Khái niệm tố cáo………………………………………..…………………..
386
II. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo ….………………………………….
386
III. Quyền và nghĩa vụ của người bị tố cáo ….……………….……………….
388
IV. Thẩm quyền giải quyết tố cáo……………………………………………….
389
V. Trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo………………………………………….
394
VI. Bảo vệ người tố cáo…………………………………………………………
400
B. Văn bản pháp luật…………………………………………………………….
403
Phần thứ nhất. PHÁP LUẬT VỀ KHIẾU NẠI
A. KIẾN THỨC PHÁP LUẬT
I. KHÁI NIỆM KHIẾU NẠI
Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại quy định: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”.
Qua khái niệm trên cho thấy:
- Chủ thể của hành vi khiếu nại (người thực hiện hành vi khiếu nại): Có thể là công dân, cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức (hoặc những người đại diện hợp pháp của họ) có quyền lợi bị xâm phạm bởi một quyết quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức. Như vậy, Chủ thể của hành vi khiếu nại phải là người bị thiệt hại do tác động trực tiếp bởi chính quyết quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền.
- Đối tượng của khiếu nại: Là quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền bị người khiếu nại cho là trái pháp luật và xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ.
II. KHIẾU NẠI QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH, HÀNH VI HÀNH CHÍNH
1. Trình tự khiếu nại
Luật khiếu nại quy định trình tự khiếu nại theo hướng công khai, dân chủ, đơn giản và nhanh chóng hơn, với cơ chế khiếu nại linh hoạt tạo điều kiện thuận lợi cao nhất cho người khiếu nại. Theo đó:
- Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
- Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là Bộ trưởng) thì người khiếu nại khiếu nại đến Bộ trưởng hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
- Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần hai của Bộ trưởng hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Việc quy định trình tự khiếu nại như trên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công dân, cơ quan, tổ chức trong việc lựa chọn hình thức giải quyết có hiệu quả hơn khiếu nại của mình, đề cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tạo cơ hội tự sửa chữa của người có quyết định hành chính, hành vi hành chính khi bị khiếu nại và hơn hết là tạo ra cơ chế giải quyết khiếu nại khách quan công khai, minh bạch và kịp thời hơn.
2. Hình thức khiếu nại
Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp.
Trường hợp khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại và yêu cầu giải quyết của người khiếu nại. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.
Trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản và yêu cầu người khiếu nại ký hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung như đã nêu ở đoạn trên.
Trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung thì thực hiện như sau:
- Trường hợp nhiều người đến khiếu nại trực tiếp thì cơ quan có thẩm quyền tổ chức tiếp và hướng dẫn người khiếu nại cử đại diện để trình bày nội dung khiếu nại; người tiếp nhận khiếu nại ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản.
- Trường hợp nhiều người khiếu nại bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ nội dung theo quy định, có chữ ký của những người khiếu nại và phải cử người đại diện để trình bày khi có yêu cầu của người giải quyết khiếu nại.
Trường hợp khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện thì người đại diện phải là một trong những người khiếu nại, có giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của việc đại diện và thực hiện khiếu nại theo quy định của Luật Khiếu nại.
3. Thời hiệu khiếu nại
Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.
Trường hợp người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.
4. Rút khiếu nại
Người khiếu nại có thể rút khiếu nại tại bất cứ thời điểm nào trong quá trình khiếu nại và giải quyết khiếu nại; việc rút khiếu nại phải được thực hiện bằng đơn có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại; đơn xin rút khiếu nại phải gửi đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại khi nhận được đơn xin rút khiếu nại thì đình chỉ việc giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại về việc đình chỉ giải quyết khiếu nại.
5. Các khiếu nại không được thụ lý giải quyết
Khiếu nại thuộc một trong các trường hợp sau đây không được thụ lý giải quyết:
- Quyết định hành chính, hành vi hành chính trong nội bộ cơ quan nhà nước để chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ; quyết định hành chính, hành vi hành chính trong chỉ đạo điều hành của cơ quan hành chính cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới; quyết định hành chính có chứa đựng các quy phạm pháp luật do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật; quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định;
- Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại;
- Người khiếu nại không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không có người đại diện hợp pháp;
- Người đại diện không hợp pháp thực hiện khiếu nại;
- Đơn khiếu nại không có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại;
- Thời hiệu, thời hạn khiếu nại đã hết mà không có lý do chính đáng;
- Khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại lần hai;
- Có văn bản thông báo đình chỉ việc giải quyết khiếu nại mà sau 30 ngày người khiếu nại không tiếp tục khiếu nại;
- Việc khiếu nại đã được Tòa án thụ lý hoặc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Toà án, trừ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính của Tòa án.
6. Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại, người giải quyết khiếu nại, luật sư, trợ giúp viên pháp lý
6.1. Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại
a) Người khiếu nại có các quyền sau đây:
- Tự mình khiếu nại.
Trường hợp người khiếu nại là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì người đại diện theo pháp luật của họ thực hiện việc khiếu nại;
Trường hợp người khiếu nại ốm đau, già yếu, có nhược điểm về thể chất hoặc vì lý do khách quan khác mà không thể tự mình khiếu nại thì được ủy quyền cho cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, con đã thành niên hoặc người khác có năng lực hành vi dân sự đầy đủ để thực hiện việc khiếu nại;
- Nhờ luật sư tư vấn về pháp luật hoặc ủy quyền cho luật sư khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Trường hợp người khiếu nại là người được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật thì được nhờ trợ giúp viên pháp lý tư vấn về pháp luật hoặc ủy quyền cho trợ giúp viên pháp lý khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
b) Người khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
- Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết;
- Trình bày trung thực sự việc, đưa ra chứng cứ về tính đúng đắn, hợp lý của việc khiếu nại; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp thông tin, tài liệu đó;
- Chấp hành quyết định hành chính, hành vi hành chính mà mình khiếu nại trong thời gian khiếu nại, trừ trường hợp quyết định, hành vi đó bị tạm đình chỉ thi hành;
- Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.
6.2. Quyền, nghĩa vụ của người bị khiếu nại
a) Người bị khiếu nại có các quyền sau đây:
- Đưa ra chứng cứ về tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại;
- Được biết, đọc, sao chụp, sao chép các tài liệu, chứng cứ do người giải quyết khiếu nại thu thập để giải quyết khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước;
- Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đang lưu giữ, quản lý thông tin, tài liệu liên quan tới nội dung khiếu nại cung cấp thông tin, tài liệu đó cho mình trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có yêu cầu để giao cho người giải quyết khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước;
- Nhận quyết định giải quyết khiếu nại lần hai.
b) Người bị khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
- Tham gia đối thoại hoặc ủy quyền cho người đại diện hợp pháp tham gia đối thoại;
- Chấp hành quyết định xác minh nội dung khiếu nại của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền giải quyết khiếu nại;
- Cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại, giải trình về tính hợp pháp, đúng đắn của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại khi người giải quyết khiếu nại hoặc cơ quan, đơn vị kiểm tra, xác minh yêu cầu trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày có yêu cầu;
- Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật;
- Sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại;
- Bồi thường, bồi hoàn thiệt hại do quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
6.3. Quyền, nghĩa vụ của người giải quyết khiếu nại lần đầu
a) Người giải quyết khiếu nại lần đầu có các quyền sau đây:
- Yêu cầu người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có yêu cầu để làm cơ sở giải quyết khiếu nại;
- Quyết định áp dụng, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp theo quy định tại Điều 35 của Luật khiếu nại.
b) Người giải quyết khiếu nại lần đầu có các nghĩa vụ sau đây:
- Tiếp nhận khiếu nại và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp về việc thụ lý giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại;
- Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính khi người khiếu nại yêu cầu;
- Tổ chức đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;
- Gửi quyết định giải quyết khiếu nại cho người khiếu nại và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết khiếu nại của mình; trường hợp khiếu nại do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển đến thì phải thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đó theo quy định của pháp luật;
- Cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung khiếu nại khi người khiếu nại yêu cầu; cung cấp hồ sơ giải quyết khiếu nại khi người giải quyết khiếu nại lần hai hoặc Tòa án yêu cầu.
- Người giải quyết khiếu nại lần đầu giải quyết bồi thường, bồi hoàn thiệt hại do quyết định hành chính, hành vi hành chính gây ra theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Người giải quyết khiếu nại lần đầu thực hiện các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
6.4. Quyền, nghĩa vụ của người giải quyết khiếu nại lần hai
a) Người giải quyết khiếu nại lần hai có các quyền sau đây:
- Yêu cầu người khiếu nại, người bị khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có yêu cầu để làm cơ sở giải quyết khiếu nại;
- Quyết định áp dụng, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp theo quy định tại Điều 35 của Luật khiếu nại;
- Triệu tập cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia đối thoại;
- Trưng cầu giám định;
- Tham khảo ý kiến của Hội đồng tư vấn khi xét thấy cần thiết.
b) Người giải quyết khiếu nại lần hai có các nghĩa vụ sau đây:
- Tiếp nhận, thụ lý, lập hồ sơ vụ việc khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết;
- Kiểm tra, xác minh nội dung khiếu nại;
- Tổ chức đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;
- Ra quyết định giải quyết khiếu nại và công bố quyết định giải quyết khiếu nại;
- Cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại khi người khiếu nại, người bị khiếu nại hoặc Tòa án yêu cầu.
Người giải quyết khiếu nại lần hai thực hiện các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
6.5. Quyền, nghĩa vụ của luật sư, trợ giúp viên pháp lý
a) Luật sư, trợ giúp viên pháp lý có các quyền sau đây:
- Tham gia vào quá trình giải quyết khiếu nại theo đề nghị của người khiếu nại;
- Thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại khi được ủy quyền;
- Xác minh, thu thập chứng cứ có liên quan đến nội dung khiếu nại theo yêu cầu của người khiếu nại và cung cấp chứng cứ cho người giải quyết khiếu nại;
- Nghiên cứu hồ sơ vụ việc, sao chụp, sao chép các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến nội dung khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước.
b) Luật sư, trợ giúp viên pháp lý tham gia giải quyết khiếu nại có nghĩa vụ sau đây:
- Xuất trình thẻ luật sư, thẻ trợ giúp viên pháp lý và quyết định phân công trợ giúp pháp lý, giấy yêu cầu giúp đỡ về pháp luật hoặc giấy ủy quyền của người khiếu nại;
- Thực hiện đúng nội dung, phạm vi mà người khiếu nại đã ủy quyền;
Đồng thời, luật sư, trợ giúp viên pháp lý thực hiện các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
III. GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
1. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại
Theo quy định của pháp luật, Thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại (lần đầu) đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp; đồng thời giải quyết khiếu nại (lần hai) đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới trực tiếp đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết.
Cụ thể thẩm quyền giải quyết khiếu nại ở địa phương quy định như sau:
- Chủ tịch UBND cấp xã: Có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp.
- Thủ trưởng cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: Có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp.
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện): Có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình; giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, thủ trưởng cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện đã giải quyết nhưng còn có khiếu nại.
- Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương: Có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp.
- Giám đốc sở và cấp tương đương thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp; giải quyết khiếu nại mà thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương đã giải quyết nhưng còn có khiếu nại.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) có thẩm quyền: Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình; giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Giám đốc sở hoặc cấp tương đương thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại mà nội dung thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Việc quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu thuộc về người có quyết định hành chính, hành vi hành chính của Luật khiếu nại lần này là phù hợp với cơ chế quản lý hiện nay, đồng thời tạo điều kiện cho việc giải quyết khiếu nại được nhanh chóng, kịp thời hơn. Bởi vì hơn ai hết, người có quyết định, hành vi hành chính bị khiếu nại là người hiểu rõ sự việc bị khiếu nại, do vậy họ có thể giải quyết nhanh chóng sự việc mà người khiếu nại yêu cầu. Đồng thời, việc quy định như vậy sẽ tạo điều kiện cho người có quyết định hành chính, hành vi hành chính có cơ hội tự sửa chữa những sai sót có thể có trong quá trình quản lý của mình, tránh gây mất thời gian, công sức của các cơ quan khác. Việc quy định Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp của người có quyết định hành chính, hành vi hành chính giải quyết lần hai đối với quyết định hành chính đã được người có quyết định hành chính, hành vi hành chính giải quyết lần đầu còn khiếu nại là phù hợp, tạo điều kiện cho việc giải quyết khiếu nại được chính xác, khách quan và minh bạch hơn.
2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại
Trong các lần giải quyết, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải tổ chức, thực hiện những công việc chính theo trình tự thủ tục sau đây:
Một là: thụ lý giải quyết khiếu nại, đây là công việc đầu tiên quan trọng cần phải thực hiện trong cả hai lần giải quyết khiếu nại. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền mà khiếu nại không thuộc một trong các trường hợp không được thụ lý giải quyết quy định tại Điều 11 của Luật khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý giải quyết; đồng thời thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp biết, trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu rõ lý do (Điều 27).
Đối với giải quyết khiếu nại lần hai thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình và khiếu nại không thuộc một trong các trường hợp không được thụ lý quy định tại Điều 11 của Luật khiếu nại, người giải quyết khiếu nại lần hai phải thụ lý giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đã chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp biết, trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu rõ lý do… (Điều 36).
Hai là: xác minh nội dung khiếu nại. Điều 29 Luật khiếu nại quy định trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đối với vụ việc bình thường hoặc 45 ngày đối với vụ việc phức tạp, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu có trách nhiệm kiểm tra lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp, nếu khiếu nại đúng thì ra quyết định giải quyết khiếu nại ngay. Trong trường hợp qua kiểm tra lại mà chưa có cơ sở kết luận nội dung khiếu nại là đúng hay sai thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu tự mình tiến hành xác minh, kết luận nội dung khiếu nại hoặc giao cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm (sau đây gọi chung là người có trách nhiệm xác minh) xác minh nội dung khiếu nại, kiến nghị giải quyết khiếu nại. Việc xác minh nội dung khiếu nại thông qua các hình thức kiểm tra, xác minh trực tiếp tại địa điểm phát sinh khiếu nại và kiểm tra, xác minh thông qua các tài liệu, chứng cứ mà người khiếu nại, người bị khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp. Kết thúc việc xác minh, người có trách nhiệm xác minh lập báo cáo kết quả xác minh với các nội dung: đối tượng xác minh; thời gian tiến hành xác minh; người tiến hành xác minh; nội dung xác minh; kết quả xác minh; kết luận và kiến nghị nội dung giải quyết khiếu nại.
Đối với lần giải quyết khiếu nại lần hai, việc xác minh là công việc bắt buộc, do đó người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai căn cứ vào nội dung, tính chất của việc khiếu nại, tự mình tiến hành xác minh, kết luận nội dung khiếu nại hoặc giao cho người có trách nhiệm xác minh nội dung khiếu nại và kiến nghị giải quyết khiếu nại (Điều 38). Việc xác minh nội dung khiếu nại lần hai được tổ chức thực hiện tương tự như trường hợp xác minh trong giải quyết khiếu nại lần đầu.
Ba là: tổ chức đối thoại, qua theo dõi công tác giải quyết khiếu nại cho thấy việc tổ chức đối thoại ngày càng trở thành vấn đề quan trọng và là công việc không thể thiếu trong quá trình giải quyết khiếu nại. Công việc này là biểu hiện cụ thể của sự công khai, minh bạch… và dân chủ; nó có ý nghĩa thực tế to lớn trong việc nâng cao hiệu quả của công tác giải quyết khiếu nại. Chính vì vậy, Luật khiếu nại đã cụ thể hóa việc tổ chức đối thoại trong quá trình giải quyết khiếu nại lần đầu và lần hai.
Theo đó, trong quá trình giải quyết khiếu nại lần đầu, nếu yêu cầu của người khiếu nại và kết quả xác minh nội dung khiếu nại còn khác nhau thì người giải quyết khiếu nại tổ chức đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại; việc đối thoại phải tiến hành công khai, dân chủ. Để tiến hành đối thoại người giải quyết khiếu nại có trách nhiệm thông báo bằng văn bản với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức có liên quan biết thời gian, địa điểm, nội dung việc đối thoại. Khi đối thoại, người giải quyết khiếu nại phải nêu rõ nội dung cần đối thoại, kết quả xác minh nội dung khiếu nại; người tham gia đối thoại có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ liên quan đến khiếu nại và yêu cầu của mình. Việc đối thoại phải được lập thành biên bản; biên bản phải ghi rõ ý kiến của những người tham gia, kết quả đối thoại, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người tham gia; trường hợp người tham gia đối thoại không ký, điểm chỉ xác nhận thì phải ghi rõ lý do; biên bản này được lưu vào hồ sơ vụ việc khiếu nại. Kết quả đối thoại là một trong các căn cứ để giải quyết khiếu nại (Điều 30).
Trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai, việc đối thoại là công việc bắt buộc, do đó người giải quyết khiếu nại tiến hành đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại. Việc tổ chức đối thoại lần hai tiến hành tương tự như việc thực hiện đối thoại trong giải quyết khiếu nại lần đầu.
Bốn là: ra quyết định giải quyết khiếu nại. Quyết định giải quyết khiếu nại là văn bản do người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại ban hành trong các lần giải quyết khiếu nại. Luật khiếu nại quy định người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu, lần hai có trách nhiệm ra quyết định giải quyết khiếu nại và quy định nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần hai như sau:
- Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; tên, địa chỉ người khiếu nại, người bị khiếu nại; nội dung khiếu nại; kết quả xác minh nội dung khiếu nại; kết quả đối thoại (nếu có); căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại; kết luận về nội dung khiếu nại; giữ nguyên, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại; giải quyết các vấn đề cụ thể trong nội dung khiếu nại; việc bồi thường thiệt hại cho người bị khiếu nại (nếu có); quyền khiếu nại lần hai, quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án.
- Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại; nội dung khiếu nại; kết quả giải quyết khiếu nại của người giải quyết khiếu nại lần đầu; kết quả xác minh nội dung khiếu nại; kết quả đối thoại; căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại; kết luận nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ. Trường hợp khiếu nại là đúng hoặc đúng một phần thì yêu cầu người có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại sửa đổi, hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại. Trường hợp kết luận nội dung khiếu nại là sai toàn bộ thì yêu cầu người khiếu nại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan thực hiện nghiêm chỉnh quyết định hành chính, hành vi hành chính; việc bồi thường cho người bị thiệt hại (nếu có) và quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án.
Đối với trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại xem xét, kết luận nội dung khiếu nại và căn cứ vào kết luận đó để ra quyết định giải quyết khiếu nại cho từng người hoặc ra quyết định giải quyết khiếu nại kèm theo danh sách những người khiếu nại.
Năm là: gửi, công bố quyết định giải quyết khiếu nại, do tính chất và yêu cầu của các lần giải quyết khiếu nại có sự khác nhau, nên đối với trường hợp giải quyết khiếu nại lần đầu người ra quyết định giải quyết khiếu nại chỉ cần gửi quyết định giải quyết cho người khiếu nại và các đối tượng liên quan. Trường hợp giải quyết khiếu nại lần hai, người ra quyết định giải quyết khiếu nại ngoài việc gửi quyết định giải quyết khiếu nại còn phải tổ chức công bố công khai quyết định giải quyết khiếu nại đó, cụ thể như sau:
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại lần đầu có trách nhiệm gửi quyết định giải quyết khiếu nại cho người khiếu nại, thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người giải quyết khiếu nại hoặc người có thẩm quyền, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp.
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có quyết định giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại lần hai phải gửi quyết định giải quyết khiếu nại cho người khiếu nại, người bị khiếu nại, người giải quyết khiếu nại lần đầu, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển khiếu nại đến. Đồng thời người giải quyết khiếu nại lần hai lựa chọn một hoặc một số hình thức công khai sau đây: (1) công bố tại cuộc họp cơ quan, tổ chức nơi người bị khiếu nại công tác; (2) niêm yết tại trụ sở làm việc hoặc nơi tiếp công dân của cơ quan, tổ chức đã giải quyết khiếu nại; (3) thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.
Sáu là: lập hồ sơ giải quyết khiếu nại. Pháp luật quy định việc giải quyết khiếu nại phải được lập thành hồ sơ, hồ sơ giải quyết khiếu nại lần đầu và lần hai bao gồm: đơn khiếu nại hoặc bản ghi lời khiếu nại; các tài liệu, chứng cứ do các bên cung cấp; biên bản kiểm tra, xác minh, kết luận, kết quả giám định (nếu có); biên bản tổ chức đối thoại (nếu có); quyết định giải quyết khiếu nại; các tài liệu khác có liên quan.
Hồ sơ giải quyết khiếu nại phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và được lưu giữ theo quy định của pháp luật. Trường hợp người khiếu nại khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án thì hồ sơ giải quyết vụ việc khiếu nại đó phải được chuyển cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết khi có yêu cầu.
5. Thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật
5.1. Quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật
- Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu có hiệu lực pháp luật sau 30 ngày, kể từ ngày ban hành mà người khiếu nại không khiếu nại lần hai; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày.
- Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai có hiệu lực pháp luật sau 30 ngày, kể từ ngày ban hành; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn có thể kếo dài hơn nhưng không quá 45 ngày.
Quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật có hiệu lực thi hành ngay.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
5.2. Thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật
Người giải quyết khiếu nại trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật; trường hợp cần thiết, yêu cầu cơ quan chức năng có biện pháp để bảo đảm việc thi hành các quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật; tổ chức thi hành hoặc chủ trì, phối hợp với tổ chức, cơ quan hữu quan thực hiện biện pháp nhằm khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại; kiến nghị cơ quan, tổ chức khác giải quyết những vấn đề liên quan đến việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại (nếu có).
Khi quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật, người khiếu nại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có trách nhiệm sau đây:
- Cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của mình đã bị quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật xâm phạm;
- Chấp hành quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết công nhận quyết định hành chính, hành vi hành chính đó đúng pháp luật;
- Chấp hành quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền để thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan có thẩm quyền để thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật; phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật khi được yêu cầu.
6. Khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án sau khi giải quyết khiếu nại
Trong thời hạn 30 ngày (đối với cả khiếu nại lần đầu và lần thứ hai), kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn nói trên có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày.
B. VĂN BẢN PHÁP LUẬT
- Luật khiếu nại năm 2011
- Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ về việc quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại
- Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định Quy trình giải quyết khiếu nại hành chính
Phần thứ hai. PHÁP LUẬT VỀ TỐ CÁO
A. KIẾN THỨC PHÁP LUẬT
I. KHÁI NIỆM TỐ CÁO
Điều 2 Luật tố cáo năm 2011 quy định: Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Ví dụ: tố cáo hành vi nhận tiền hối lộ từ người có hành vi vi phạm luật giao thông của cảnh sát giao thông trong khi thực hiện nhiệm vụ.
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực là việc công dân báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đối với việc chấp hành quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực. Ví dụ: tố cáo hành vi buôn lậu, hành vi đánh bạc, hành vi sử dụng ma túy trái phép, hành vi lấn chiếm đất đai, hành vi xây dựng trái phép, hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, về an toàn vệ sinh thực phẩm...
Từ khái niệm trên cho thấy:
- Chủ thể của hành vi tố cáo (người thực hiện hành vi tố cáo) chỉ có thể là cá nhân công dân. Dù cho hành vi bị tố cáo đó có liên quan hay không liên quan đến mình thì công dân vẫn có quyền tố cáo.
- Đối tượng của hành vi tố cáo là mọi hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
II. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI TỐ CÁO
1. Quyền của người tố cáo (Khoản 1 Điều 9 của Luật Tố cáo)
- Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền: Khi thực hiện quyền tố cáo đòi hỏi người tố cáo phải tự mình viết đơn tố cáo gửi đến cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền để giải quyết, trường hợp do không biết chữ hay vì lý do chính đáng khác (cần giữ bí mật bút tích, sợ bị thất lạc đơn tố cáo…) thì người tố cáo có thể đến gặp đại diện cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền giải quyết để trình bày trực tiếp.
- Được giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của mình: Mục đích của quy định này nhằm bảo vệ người tố cáo, tránh những trường hợp do bị tiết lộ thông tin nên bị trả thù, trù dập hoặc có những bất lợi khác cho người tố cáo. Để quyền này của người tố cáo được thực hiện thì người giải quyết tố cáo phải có trách nhiệm giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của người tố cáo; đồng thời phải áp dụng biện pháp cần thiết theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có biện pháp cần thiết để giữ bí mật thông tin và bảo vệ cho người tố cáo (Điều 36).
Tuy nhiên, đây là quyền của người tố cáo, nên người tố cáo có thể thực hiện hoặc không thực hiện, trong trường hợp người tố cáo thấy không cần thiết giữ bí mật và muốn công khai họ, tên, địa chỉ của mình thì họ có thể tự mình chủ động công khai hoặc báo cho cơ quan, tổ chức có liên quan để công khai theo yêu cầu của họ.
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thông báo về việc thụ lý giải quyết tố cáo, thông báo chuyển vụ việc tố cáo sang cơ quan có thẩm quyền giải quyết, thông báo kết quả giải quyết tố cáo: quy định này nhằm bảo đảm cơ chế để người tố cáo cũng như các cơ quan, tổ chức khác có thể tham gia giám sát quá trình giải quyết tố cáo của người có thẩm quyền.
- Tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết.
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trả thù, trù dập: Sau khi tố cáo, nếu người tố cáo bị đe doạ, trù dập hoặc trả thù thì có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của mình theo quy định của pháp luật.
- Được khen thưởng theo quy định của pháp luật: Đối với công dân có thành tích trong việc tố cáo cần phải có cơ chế khen thưởng thích đáng. Để phù hợp với yêu cầu thực tiễn, khuyến khích, động viên những người có trách nhiệm, dũng cảm đấu tranh với hành vi vi phạm pháp luật, Luật xác định nguyên tắc: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc giải quyết tố cáo, người tố cáo có công trong việc ngăn ngừa thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân thì được khen thưởng về vật chất và tinh thần.
2. Nghĩa vụ của người tố cáo (Khoản 2 Điều 9 của Luật Tố cáo)
- Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình: Khi tố cáo, người tố cáo cần nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình để cơ quan có thẩm quyền có điều kiện liên hệ trong quá trình xem xét, làm rõ sự việc.
- Trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được: Người tố cáo cần phải trình bày đúng những nội dung sự việc mà mình biết tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền có cơ sở tiến hành xác minh. Việc thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ này không những làm tăng cường trách nhiệm của người tố cáo mà còn có tác dụng ngăn ngừa việc lợi dụng quyền tố cáo để đưa ra những thông tin không đúng, có hại cho người khác, gây mất thời gian, công sức cho cơ quan xem xét, giải quyết.
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình.
- Bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra.
Người tố cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình và có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra. Vì vậy, khi làm đơn tố cáo, người tố cáo phải cân nhắc, suy nghĩ cẩn trọng, có chứng cứ xác đáng và đặc biệt không thể vì động cơ cá nhân trả thù người có mâu thuẫn với mình hay vì một sự cạnh tranh, đố kỵ ... mà làm đơn tố cáo, vu khống làm mất uy tín, danh dự, thậm chí gây thiệt hại đến quyền và lợi ích chính đáng của người khác. Nếu người tố cáo mà tố cáo sai sự thật thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật. Quy định này nhằm tránh xảy ra tình trạng tố cáo tràn lan, không có đủ thông tin chính xác hoặc do trình độ hạn chế của người tố cáo đã nhận thức không đúng về bản chất sự việc đã tố cáo sai sự thật hoặc lợi dụng quyền tố cáo để phục vụ cho lợi ích của bản thân hoặc để trả thù người khác vì lý do cá nhân.
III. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BỊ TỐ CÁO
1. Quyền của người bị tố cáo (Khoản 1 Điều 10 của Luật Tố cáo)
- Được thông báo về nội dung tố cáo.
- Đưa ra chứng cứ để chứng minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật: Đây là một trong những quyền rất quan trọng của người bị tố cáo để họ tự bảo vệ mình trước những thông tin có hại từ việc tố cáo không chính xác đem lại. Quyền này đặc biệt có ý nghĩa trong trường hợp người bị tố cáo bị người khác cố tình bịa đặt, vu khống, bôi nhọ.
- Nhận thông báo kết luận nội dung tố cáo.
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người cố ý tố cáo sai sự thật, người cố ý giải quyết tố cáo trái pháp luật.
- Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, được xin lỗi, cải chính công khai, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo, giải quyết tố cáo không đúng gây ra.
Thiệt hại xảy ra đối với người bị tố cáo có thể là do hành vi tố cáo sai sự thật hoặc là hậu quả của quá trình giải quyết tố cáo thiếu thận trọng hay có sai lầm. Việc bồi thường thiệt hại, việc khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp (trong đó có danh dự, nhân phẩm của người bị tố cáo), tuỳ từng lĩnh vực cụ thể được quy định trong các văn bản pháp luật khác nhau.
2. Nghĩa vụ của người bị tố cáo (Khoản 2 Điều 10 Luật Tố cáo)
- Giải trình bằng văn bản về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu.
- Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
- Bồi thường, bồi hoàn thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra.
Đây là những yếu tố quan trọng để cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đánh giá được mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị tố cáo, thái độ tự giác và nhận thức về hành vi sai trái của người bị tố cáo để từ đó có biện pháp xử lý thích hợp, vừa có tác dụng phòng ngừa chung vừa tạo điều kiện để họ có thể sửa chữa hành vi sai trái của mình. Khi có kết luận nội dung tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, người bị tố cáo phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý tố cáo.
Trong trường hợp người bị tố cáo phải chấp hành quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo mà không chấp hành thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
IV. THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TỐ CÁO
1. Thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ
1.1. Thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
Cán bộ, công chức là người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh hoặc được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước[19].
Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật[20].
Cán bộ, công chức, viên chức trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà có hành vi vi phạm pháp luật, bị tố cáo thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị quản lý cán bộ, công chức, viên chức đó có thẩm quyền giải quyết tố cáo. Do đó, trong từng trường hợp cụ thể, người tố cáo gửi đơn tố cáo hoặc trực tiếp tố cáo tại những cơ quan nơi cán bộ, công chức, viên chức đó công tác, làm việc (quy định từ Điều 13 đến Điều 17 Luật Tố cáo).
Một số trường hợp cụ thể như sau:
a) Đối với cán bộ, công chức thuộc cơ quan hành chính nhà nước có hành vi vi phạm pháp luật trong khi thực hiện nhiệm vụ bị tố cáo thì thẩm quyền giải quyết tố cáo được quy định như sau:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
- Người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn trực thuộc cơ quan mình và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
- Tổng cục trưởng, Cục trưởng và cấp tương đương được phân cấp quản lý cán bộ, công chức có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu đơn vị thuộc Tổng cục, Cục và cấp tương đương, cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
- Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Bộ trưởng, Thứ trưởng, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
b) Đối với cán bộ, công chức thuộc cơ quan khác của nhà nước (như cán bộ, công chức của Toà án nhân dân, Kiểm sát nhân dân, Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Kiểm toán nhà nước…) có hành vi vi phạm pháp luật trong khi thực hiện nhiệm vụ, bị tố cáo thì thẩm quyền giải quyết tố cáo được quy định như sau:
- Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp có thẩm quyền:
+ Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của công chức do mình quản lý trực tiếp;
+ Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong thực việc hiện nhiệm vụ, công vụ của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới.
- Tổng Kiểm toán Nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Kiểm toán trưởng, Phó Kiểm toán trưởng Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành, Kiểm toán Nhà nước khu vực và công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
Kiểm toán trưởng Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành, Kiểm toán Nhà nước khu vực có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
- Người đứng đầu cơ quan khác của Nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
- Cơ quan có thẩm quyền quản lý đối với cán bộ là đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ do mình quản lý.
Người đứng đầu cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà không phải là cán bộ, công chức, viên chức có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người đó trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
1.2. Thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực
Hành vi vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực bao gồm tất cả các hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong xã hội, kể cả vi phạm của cán bộ, công chức, viên chức ngoài phạm vi thực hiện nhiệm vụ, công vụ và vi phạm của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.
Nhằm giúp người tố cáo tố cáo hành vi vi phạm pháp luật tới đúng cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo, hạn chế trường hợp đơn thư tố cáo lòng vòng, hiệu quả giải quyết thấp, Điều 31 Luật Tố cáo quy định thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực. Theo đó, cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực nào thì có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với nội dung tố cáo liên quan đến chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của cơ quan đó.
Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý được giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trong trường hợp nội dung tố cáo liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của nhiều cơ quan, thì các cơ quan có trách nhiệm phối hợp để xác định thẩm quyền giải quyết hoặc báo cáo cơ quan quản lý nhà nước cấp trên quyết định giao cho một cơ quan chủ trì giải quyết; nội dung tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan thì cơ quan thụ lý đầu tiên có thẩm quyền giải quyết. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ thông tin, tài liệu có liên quan đến việc tố cáo có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu theo yêu cầu của người có thẩm quyền giải quyết tố cáo trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp không cung cấp, cung cấp không đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu theo yêu cầu thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án).
2. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp người tố cáo, tiếp nhận và giải quyết tố cáo theo đúng quy định của pháp luật; xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra, bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín, việc làm, bí mật cho người tố cáo; bảo đảm quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo được thi hành nghiêm chỉnh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định xử lý của mình.
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo có trách nhiệm bố trí trụ sở tiếp công dân hoặc địa điểm tiếp công dân để tiếp nhận tố cáo, khiếu nại, kiến nghị, phản ánh. Việc tổ chức tiếp công dân tại trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân thực hiện theo quy định của Luật khiếu nại và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo mà không tiếp nhận, không giải quyết theo đúng quy định của Luật tố cáo, thiếu trách nhiệm trong việc tiếp nhận, giải quyết tố cáo hoặc cố ý giải quyết tố cáo trái pháp luật phải bị xử lý nghiêm minh, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật.
Riêng Chánh thanh tra các cấp và Tổng Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm như sau:
- Chánh thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ, Chánh thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chánh thanh tra sở, Chánh thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trách nhiệm: Xác minh nội dung tố cáo, kết luận nội dung xác minh, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp khi được giao; xem xét, kết luận việc giải quyết tố cáo mà người đứng đầu cơ quan cấp dưới trực tiếp của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp đã giải quyết nhưng có dấu hiệu vi phạm pháp luật; trường hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo có vi phạm pháp luật thì kiến nghị người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp xem xét, giải quyết lại.
- Tổng Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm: xác minh nội dung tố cáo, kết luận nội dung xác minh, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ tướng Chính phủ khi được giao; xem xét, kết luận việc giải quyết tố cáo mà Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết nhưng có dấu hiệu vi phạm pháp luật; trường hợp kết luận việc giải quyết có vi phạm pháp luật thì kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, giải quyết lại.
V. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TỐ CÁO
1. Đơn tố cáo
Đơn tố cáo có thể làm phát sinh hoặc không phát sinh vụ việc tố cáo. Sau khi nghiên cứu đơn tố cáo và tiến hành xác minh, kiểm tra, người giải quyết tố cáo quyết định việc thụ lý hoặc không thụ lý đơn tố cáo.
Người có quyền tố cáo có thể gửi đơn tố cáo hoặc tố cáo trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo.
Đơn tố cáo phải có các nội dung chính sau:
- Ngày, tháng, năm tố cáo;
- Họ, tên, địa chỉ của người tố cáo;
- Nội dung tố cáo;
- Chứng cứ, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo (nếu có).
Đơn tố cáo phải do người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của từng người tố cáo, có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tố cáo; họ, tên người đại diện cho những người tố cáo để phối hợp khi có yêu cầu của người giải quyết tố cáo.
Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo viết đơn tố cáo hoặc người tiếp nhận ghi lại việc tố cáo bằng văn bản và yêu cầu người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản. Trường hợp nhiều người đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo cử đại diện để trình bày nội dung tố cáo.
2. Tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo
2.1. Việc tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ
- Thời hạn thụ lý giải quyết tố cáo: 10 ngày kể từ ngày nhận đơn tố cáo. Trong thời gian này, người giải quyết tố cáo phải kiểm tra, xác minh họ, tên, địa chỉ của người tố cáo và quyết định việc thụ lý hoặc không thụ lý. Trường hợp phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn có thể dài hơn nhưng không quá 15 ngày.
Nếu tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn tố cáo người tiếp nhận phải chuyển đơn tố cáo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết. Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận tố cáo hướng dẫn người tố cáo đến tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết.
- Các trường hợp không thụ lý giải quyết tố cáo:
+ Tố cáo về vụ việc đã được người đó giải quyết mà người tố cáo không cung cấp thông tin, tình tiết mới;
+ Tố cáo về vụ việc mà nội dung và những thông tin người tố cáo cung cấp không có cơ sở để xác định người vi phạm, hành vi vi phạm pháp luật;
+ Tố cáo về vụ việc mà người có thẩm quyền giải quyết tố cáo không đủ điều kiện để kiểm tra, xác minh hành vi vi phạm pháp luật, người vi phạm.
2.2. Việc tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực
Luật tố cáo quy định việc tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực được thực hiện như đối với tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, trừ trường hợp tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực có nội dung rõ ràng, chứng cứ cụ thể, có cơ sở để xử lý ngay.
3. Xác minh nội dung tố cáo
Người giải quyết tố cáo tiến hành xác minh hoặc giao cho cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm xác minh nội dung tố cáo; trường hợp giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm xác minh nội dung tố cáo thì người giải quyết tố cáo phải lập văn bản giao việc xác minh, trong đó ghi rõ nội dung cần xác minh, thời gian tiến hành xác minh, quyền hạn và trách nhiệm của người được giao xác minh nội dung tố cáo. Người được giao xác minh nội dung tố cáo có quyền và nghĩa vụ như người giải quyết tố cáo. Tuy nhiên người được giao xác minh nội dung tố cáo không được kết luận về nội dung tố cáo, không được ra quyết định xử lý nhưng được kết luận nội dung xác minh, kiến nghị biện pháp xử lý và báo cáo người giải quyết tố cáo.
Đối với trường hợp xác minh nội dung tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực: Luật Tố cáo quy định việc xác minh nội dung tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực cũng được thực hiện như xác minh nội dung tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Trừ trường hợp tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực có nội dung rõ ràng, chứng cứ cụ thể, có cơ sở để xử lý ngay thì người tiếp nhận tố cáo phải trực tiếp tiến hành hoặc báo cáo người có thẩm quyền giải quyết tố cáo tiến hành ngay việc xác minh nội dung tố cáo, áp dụng các biện pháp cần thiết để đình chỉ hành vi vi phạm và kịp thời lập biên bản về hành vi vi phạm pháp luật (nếu có); việc xác minh, kiểm tra thông tin về người tố cáo được thực hiện trong trường hợp người giải quyết tố cáo thấy cần thiết cho quá trình xử lý hành vi bị tố cáo.
4. Kết luận nội dung tố cáo
Căn cứ vào nội dung tố cáo, văn bản giải trình của người bị tố cáo, kết quả xác minh nội dung tố cáo, tài liệu, chứng cứ có liên quan, người giải quyết tố cáo phải kết luận bằng văn bản về nội dung tố cáo.
Kết luận nội dung tố cáo phải có các nội dung sau đây:
- Kết quả xác minh nội dung tố cáo;
- Kết luận việc tố cáo đúng, đúng một phần hoặc sai; xác định trách nhiệm của từng cá nhân về những nội dung tố cáo đúng hoặc đúng một phần;
- Các biện pháp xử lý theo thẩm quyền; kiến nghị biện pháp xử lý với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền (nếu có).
5. Xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo
Việc xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo của người giải quyết tố cáo là khâu cuối cùng và quan trọng trong quá trình xem xét, giải quyết tố cáo. Việc xử lý khách quan, đúng pháp luật có tác dụng tích cực đối với việc đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời khuyến khích, động viên ý thức đấu tranh của nhân dân chống lại các hành vi vi phạm pháp luật trong xã hội và có tác dụng răng đe, ngăn ngừa người khác vi phạm pháp luật.
Sau khi có kết luận nội dung tố cáo, người giải quyết tố cáo tiến hành xử lý như sau:
- Trường hợp kết luận người bị tố cáo không vi phạm các quy định pháp luật thì phải thông báo bằng văn bản cho người bị tố cáo, cơ quan quản lý người bị tố cáo biết, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo bị xâm phạm do việc tố cáo không đúng sự thật gây ra, đồng thời xử lý hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người cố ý tố cáo sai sự thật.
- Trường hợp kết luận người bị tố cáo vi phạm các quy định pháp luật thì áp dụng các biện pháp xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp hành vi vi phạm của người bị tố cáo có dấu hiệu tội phạm thì chuyển ngay hồ sơ vụ việc cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật.
6. Gửi kết luận nội dung tố cáo và công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo
Sau khi có kết luận nội dung tố cáo, người giải quyết tố cáo phải gửi kết luận nội dung tố cáo cho:
- Người bị tố cáo (việc gửi văn bản bảo đảm không tiết lộ thông tin về người tố cáo và bảo vệ bí mật nhà nước);
- Cơ quan thanh tra nhà nước;
- Cơ quan cấp trên trực tiếp;
- Người tố cáo, nếu họ có yêu cầu thì gửi thông báo bằng văn bản về kết quả giải quyết tố cáo, thông báo kết quả giải quyết tố cáo phải nêu rõ kết luận nội dung tố cáo, việc xử lý người bị tố cáo, trừ những nội dung thuộc bí mật nhà nước.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ký kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tốcáo, người giải quyết tố cáocó trách nhiệm thực hiện việc công khai kết luận nội dung tốcáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo bằng một trong các hình thức sau đây:
- Công bố tại cuộc họp cơ quan, tổ chức nơi người bị tố cáo công tác vớithành phần gồm: Ngườigiải quyết tố cáo, người xác minh nội dung tố cáo, người bị tố cáo, người đứng đầu cơ quan, tổchức đơn vị nơi người bị tốcáo công tác, cơ quan, tổ chức, cá nhân cóliên quan. Trước khi tiến hành cuộc họp công khai, người có thẩm quyền phải có văn bản thông báo với cơ quan, tổchức, cá nhân có liên quan biết. Thời gian thông báo phải trước 3 ngày làm việc;
- Niêm yết tại Trụ sở làm việc hoặc nơi tiếp công dân của cơ quan, tổ chức giải quyết tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết;
- Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng gồm: Báo nói, báo hình, báo viết và báo điện tử. Người giải quyết tố cáo có thểlựa chọn một trong các hình thức thông báo trên báo nói, báo hình, báo viết hoặc báo điện tửđểthực hiện việc công khai. Trường hợp cơ quan có Cổng thông tin điện tử hoặc Trang thông tin điện tử, người có thẩm quyền giải quyết phải công khai trên Cổng thông tin điện tửhoặc Trang thông tin điện tử.
Số lần thông báo trên báo nói ít nhất là 02 lần phát sóng; trên báo hình ít nhất 02 lần phát sóng; trên báo viết ít nhất 02 số phát hành. Thời gian đăng tải trên báo điện tử, trên Cổng thông tin điện tử hoặc trên Trang thông tin điện tử của cơ quan giải quyết tố cáo ít nhất là 15 ngày, kểtừ ngày đăng thông báo.
Việc công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo bảo đảm không tiết lộ thông tin về người tố cáo và những nội dung thuộc bí mật nhà nước.
* Thời hạn giải quyết tố cáo:
Thời hạn giải quyết tố cáo là một trong những yêu cầu nhằm xác định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong giải quyết tố cáo. Thời hạn giải quyết tố cáo là khoảng thời gian xác định để cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền tiến hành các hoạt động để giải quyết tố cáo. Bản chất của tố cáo là người tố cáo nhằm mục đích bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật, đấu tranh với các hành vi vi phạm trong xã hội. Do đó, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước là phải tiếp nhận và nhanh chóng xác minh, giải quyết tố cáo để ngăn chặn kịp thời hoặc khắc phục hậu quả do những hành vi vi phạm pháp luật gây ra.
Thời hạn giải quyết tố cáo không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết.
Tuy nhiên, thực tế việc giải quyết các vụ việc tố cáo là không giống nhau, do vậy, Khoản 2 Điều 21 Luật tố cáo cũng đã quy định đối với trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn giải quyết một lần nhưng không quá 30 ngày, đối với vụ việc phức tạp thì không quá 90 ngày.
* Việc tố cáo tiếp, giải quyết vụ việc tố cáo tiếp
Tố cáo tiếp là việc người tố cáo tiếp tục tố cáo vụ việc mà mình đã tố cáo nhưng quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết hoặc có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo là không đúng pháp luật.
Đơn tố cáo tiếp được gửi đến người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người có trách nhiệm giải quyết tố cáo.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được tố cáo tiếp, người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người có trách nhiệm giải quyết tố cáo xem xét, xử lý như sau:
- Khi quá thời hạn quy định mà vụ việc tố cáo không được giải quyết hoặc có nội dung tố cáo chưa được giải quyết thì yêu cầu người có trách nhiệm giải quyết tố cáo phải giải quyết, đồng thời yêu cầu báo cáo rõ lý do việc chưa giải quyết tố cáo; có biện pháp xử lý đối với hành vi vi phạm của người có trách nhiệm giải quyết tố cáo.
- Trường hợp việc giải quyết tố cáo của người đứng đầu cơ quan cấp dưới trực tiếp là đúng pháp luật, không có tình tiết mới, không phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật thì không giải quyết lại, đồng thời thông báo cho người tố cáo về việc không giải quyết lại và yêu cầu họ chấm dứt việc tố cáo. Tuy nhiên đối với tố cáo đã được giải quyết đúng pháp luật nhưng có tình tiết mới chưa được phát hiện trong quá trình giải quyết tố cáo có thể làm thay đổi kết quả giải quyết tố cáo thì yêu cầu người đã giải quyết tố cáo phải tiếp tục giải quyết tố cáo đó theo thẩm quyền.
- Trường hợp việc giải quyết của người đứng đầu cơ quan cấp dưới trực tiếp là không đúng pháp luật thì tiến hành giải quyết lại theo đúng trình tự Luật tố cáo quy định.
Giải quyết tố cáo tiếp không phải là giải quyết tố cáo lần hai. Việc giải quyết tố cáo tiếp chỉ tiến hành khi có những căn cứ nhất định, Luật không quy định cụ thể về thời hạn, trình tự giải quyết tố cáo tiếp. Tuy nhiên, về nguyên tắc thì các cơ quan có thẩm quyền phải có trách nhiệm xem xét, giải quyết một cách nhanh chóng, kịp thời và được áp dụng quy định về thời hạn, trình tự giải quyết như đã quy định. Thông tư số 06/2013/TT-TTCP đã quy định có 6 dấu hiệu vi phạm pháp luật để thụ lý, giải quyết lại tố cáo gồm:
- Có vi phạm pháp luật nghiêm trọng về trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo có thể làm thay đổi kết quả giải quyết tố cáo.
- Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật khi kết luận nội dung tố cáo.
- Kết luận nội dung tố cáo không phù hợp với những chứng cứ thu thập được.
- Việc xử lý người bị tố cáo và các tổ chức, cá nhân liên quan không phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm pháp luật đã được kết luận.
- Có bằng chứng về việc người giải quyết tố cáo hoặc người tiếp nhận tố cáo, người xác minh nội dung tố cáo đã làm sai lệch hồ sơ vụ việc.
- Có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng của người bị tố cáo nhưng chưa được phát hiện.
VI. BẢO VỆ NGƯỜI TỐ CÁO
Trên thực tế đã có nhiều trường hợp người tố cáo bị trả thù, bị trù dập, bị xâm phạm về sức khoẻ, tính mạng, thậm chí cả người thân của họ cũng bị đe doạ, bị xâm phạm. Do đó, Luật Tố cáo đã dành Chương V (từ Điều 34 đến Điều 40) quy định về trách nhiệm và các biện pháp bảo vệ người tố cáo.
Điều 34 của Luật Tố cáo quy định đối tượng được bảo vệ là người tố cáo và người thân thích của người tố cáo (như ông, bà nội; ông, bà ngoại; bố, mẹ; anh, chị, em ruột; vợ chồng; con cái…).
Việc bảo vệ người tố cáo được thực hiện tại nơi cư trú, công tác, làm việc, học tập, nơi có tài sản của người cần được bảo vệ hoặc những nơi khác do cơ quan có thẩm quyền quyết định.
Thời hạn bảo vệ do cơ quan có thẩm quyền quyết định tuỳ thuộc vào tình hình thực tế của từng vụ việc, mức độ, tính chất của hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng cần được bảo vệ.
1. Trách nhiệm của cơ quan, người giải quyết tố cáo (Điều 36, 37, 38, 39 Luật Tố cáo)
Trách nhiệm chính trong việc bảo vệ người tố cáo trước hết thuộc về cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo. Người giải quyết tố cáo có trách nhiệm bảo vệ người tố cáo, không phụ thuộc vào người tố cáo có yêu cầu hay không.
a) Bảo vệ bí mật thông tin về người tố cáo (gồm họ tên, tuổi, địa chỉ, nơi làm việc, gia đình, người thân…): Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi tiếp nhận tố cáo, giải quyết tố cáo, khai thác, sử dụng thông tin, tài liệu do người tố cáo cung cấp có trách nhiệm giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của người tố cáo; đồng thời phải áp dụng biện pháp cần thiết theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có biện pháp cần thiết để giữ bí mật thông tin và bảo vệ cho người tố cáo (Điều 36). Đồng thời, khoản 3 Điều 8 của Luật cũng quy định nghiêm cấm tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và những thông tin khác có thể làm lộ danh tính của người tố cáo.
b) Bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người tố cáo: Khi người giải quyết tố cáo nhận được thông tin người tố cáo bị đe doạ, trả thù, trù dập thì có trách nhiệm chỉ đạo hoặc phối hợp với cơ quan công an hoặc cơ quan khác có thẩm quyền có biện pháp kịp thời ngăn chặn, bảo vệ người tố cáo và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật đối với người có hành vi đe doạ, trả thù, trù dập người tố cáo (khoản 1 Điều 39).
c) Bảo vệ người tố cáo tại nơi công tác, nơi làm việc: Để bảo đảm người tố cáo không bị trù dập, cản trở trong công việc, Điều 37 Luật Tố cáo quy định người có thẩm quyền quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động phải bảo đảm vị trí công tác, không được phân biệt đối xử về việc làm đối với người tố cáo dưới mọi hình thức, không được trả thù, trù dập, đe dọa, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo (khoản 1, 2 Điều 37).
d) Bảo vệ người tố cáo tại nơi cư trú: Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm bảo đảm để người tố cáo không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân tại nơi cư trú; không bị phân biệt đối xử, trả thù, trù dập, đe dọa, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo (khoản 1, 2 Điều 38).
Để tránh tình trạng việc bảo vệ người tố cáo chỉ là hình thức, Luật Tố cáo cũng quy định: Khi người tố cáo có căn cứ cho rằng việc tố cáo có thể gây nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình hoặc của người thân thích của mình hoặc có căn cứ cho rằng mình bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân tại nơi cư trú hoặc có căn cứ cho rằng mình bị phân biệt đối xử về việc làm dẫn đến giảm thu nhập, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì có quyền yêu cầu người giải quyết tố cáo áp dụng biện pháp bảo vệ, khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo đã bị xâm phạm, đồng thời xem xét, xử lý người có hành vi vi phạm. Trong trường hợp bị đe doạ hoặc bị xâm hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín thì có quyền đề nghị cơ quan công an áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết.
Khi nhận được đề nghị bảo vệ của người tố cáo, người có thẩm quyền có trách nhiệm kiểm tra, xác minh. Nếu đề nghị của người tố cáo là chính đáng thì áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền hoặc yêu cầu người có thẩm quyền áp dụng biện pháp: đình chỉ, tạm đình chỉ, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo; khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo đã bị xâm phạm; xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với người có hành vi đe doạ, trả thù, trù dập, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo. Đối với trường hợp bị đe dọa hoặc bị xâm hại về tính mạng, sức khoẻ danh dự, nhân phẩm, uy tín thì người giải quyết tố cáo hoặc cơ quan công an phải kịp thời bố trí nơi tạm lánh khi người tố cáo, người thân thích của họ có nguy cơ bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe; bố trí lực lượng, phương tiện, công cụ để trực tiếp bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín cho người tố cáo và người thân thích của họ tại nơi cần thiết; áp dụng biện pháp ngăn chặn, xử lý hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người tố cáo và người thân thích của người tố cáo theo quy định của pháp luật.
2. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo được bảo vệ
Mặc dù trách nhiệm chính trong việc bảo vệ người tố cáo thuộc về cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo. Tuy nhiên, người tố cáo được bảo vệ cũng phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo Điều 35 Luật Tố cáo.
Theo đó, người tố cáo có các quyền:
- Yêu cầu người giải quyết tố cáo, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ mình hoặc người thân thích của mình khi có căn cứ xác định việc bị kỷ luật, buộc thôi việc, luân chuyển công tác hoặc bị các hình thức trù dập, phân biệt đối xử khác, bị đe dọa xâm hại hoặc xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác do việc tố cáo hành vi vi phạm pháp luật;
- Được thông báo về biện pháp bảo vệ được áp dụng; đề nghị thay đổi biện pháp bảo vệ nếu có căn cứ cho rằng biện pháp đó không bảo đảm an toàn; được từ chối áp dụng biện pháp bảo vệ;
- Yêu cầu gia hạn thời hạn bảo vệ; yêu cầu bảo vệ lại;
- Được bồi thường theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong trường hợp người tố cáo yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để bảo vệ mình mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân đó không áp dụng hoặc áp dụng không kịp thời, không đúng quy định của pháp luật, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, tổn thất về tinh thần cho người được bảo vệ.
Người tố cáo có các nghĩa vụ:
- Gửi văn bản yêu cầu bảo vệ trong trường hợp có căn cứ cho rằng bị phân biệt đối xử về việc làm; trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ công dân; hay nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình đến người giải quyết tố cáo hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ người tố cáo. Trong trường hợp khẩn cấp, có thể gặp trực tiếp hoặc thông qua các hình thức thông tin khác để yêu cầu được bảo vệ ngay nhưng sau đó phải gửi văn bản yêu cầu chính thức đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ;
- Cung cấp thông tin, tài liệu, căn cứ xác định việc bị xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc quyền, lợi ích hợp pháp khác là xác thực và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về thông tin, tài liệu đã cung cấp;
- Tuân thủ yêu cầu mà cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bảo vệ đưa ra có liên quan đến công tác bảo vệ; không được tiết lộ biện pháp bảo vệ cho người khác biết.
B. VĂN BẢN PHÁP LUẬT
- Luật Tố cáo năm 2011
- Nghị định số 91/2013/NĐ-CP ngày 12/8/2013 của Chính phủ quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo trong Công an nhân dân
- Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tố cáo
- Thông tư số 06/2013/TT-TTCP ngày 30/9/2013 của Thanh tra Chính phủ về việc quy định quy trình giải quyết tố cáo
[1] Luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2016.
[2] Khoản 2 Điều 48 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn người giám hộ cho mình thì khi họ ở tình trạng cần được giám hộ, cá nhân, pháp nhân được lựa chọn là người giám hộ nếu người này đồng ý. Việc lựa chọn người giám hộ phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực”
[3] Điều 651: trong trường hợp một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có quyền lập di chúc miệng. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người để lại di chúc thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước ít nhất hai người làm chứng sau đó hai người này ghi lại nội dung của di chúc và cùng nhau ký tên hoặc điểm chỉ, trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày người để lại di chúc thể hiện ý chí cuối cùng trước 2 người làm chứng, bản di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực
[4] Giáo trình Luật dân sư Việt Nam, tập 1, Trường Đại học Luật Hà Nội, TS. Lê Đình Nghị (chủ biên), NXB. Giao dục Việt Nam, Hà Nội 2010.
[5]Xem Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Viện ngôn ngữ học, NXB. Phương Đông, Hà Nội 2002, tr. 749. Ranh giới được hiểu là đường phân giới hạn giữa hai địa phận liền nhau.
[6] Điều 236 BLDS 2015 quy định: “Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.
[7] Điều 210 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
"1. Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó, phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung.
Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất không phân chia.
2. Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung."
[8] Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình
[9] Điều 3 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
[10] Khoản 25 Điều 3 Luật đất đai 2013.
[11] Điều 3 Luật quốc tịch 2008.
[12] Điều 188 Luật đất đai năm 2013.
[13] Khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai 2013.
[14] Khoản 4 Điều 29 Luật đất đai 2013.
[15] Điều 202 Luật đất đai 2013.
[16] “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của các thế hệ tương lai” (Theo Ủy ban Liên hợp quốc về môi trường và phát triển). Theo cách hiểu chung nhất thì phát triển bền vững được hiểu là một quá trình phát triển có sự kết hợp hài hòa giữa ba mặt: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững là tăng trưởng kinh tế ổn định ; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm quốc phòng và an ninh bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống.
[17] Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo các tác động xấu tới tác động môi trường trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư cụ thể có ảnh hưởng lớn tới môi trường để từ đó thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường phù hợp. Hoạt động này do chủ dự án thực hiện và nhất thiết phải có sự tham vấn cộng đồng dân cư địa phương để bảo đảm tính khách quan, thể hiện sự tôn trọng về quyền lợi môi trường của cộng đồng dân cư địa phương, nắm bắt, tiếp thu những ý kiến đóng góp của người dân và các tổ chức liên quan về vấn đề môi trường để từ đó đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường hợp lý nhất, hiệu quả nhất.
[18] Xem thêm Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015, các điều từ Điều 163 đến Điều166 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Nghị định số 03/2015/NĐ-CP ngày 06/1/2015 của Chính phủ quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường.
[19] Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008.
[20] Điều 2 Luật viên chức năm 2010.