Đang online: 23

Số lượt truy cập: 1258612

Bánh tét là đặc sản ẩm thực mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, gắn liền với tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của nhân dân ta được lưu truyền qua một số truyền thuyết và giả thuyết dân gian thật thú vị.


Một trong những lễ vật cúng tế tiêu biểu của người Việt thường thấy trong những ngày Tết là bánh chưng (ở miền Bắc) và bánh tét (ở miền Nam). Cả hai loại bánh cùng được làm từ gạo nếp với nhân thịt, đậu… là những sản phẩm của nền văn hóa ẩm thực nông nghiệp, văn minh lúa nước truyền thống, là nguồn sống của con người. Điều đó, cho ta nghĩ đến xuất xứ của bánh tét khởi nguồn từ biến thể của bánh chưng theo truyền thuyết sự tích “Bánh dày, bánh chưng” mà hoàng tử Lang Liêu đã sáng tạo với ý tưởng tượng trưng cho “Trời và đất” làm lễ vật dâng lên vua… Từ đó, bánh dày và bánh chưng trở thành lễ vật truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, không thể thiếu trong lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và ngày Tết Nguyên đán. Lễ vật ấy, như là tấm lòng của người con nước Việt dâng lên cho ông bà tổ tiên, thần linh… trong những lễ cúng.

Trong quá trình lịch sử di dân về phương Nam của người Việt, bánh tết được biến thể từ bánh chưng để phù hợp với điều kiện cuộc sống. Cố giáo sư Trần Quốc Vượng đã cho rằng, bánh chưng nguyên thủy có hình tròn như bánh tét hay bánh tày, là loại bánh tết của người dân vùng Kinh Bắc và các dân tộc thiểu số miền Bắc. Ngoài ra, có ý kiến cho rằng, bánh tét có hình trụ tròn là kết quả của quá trình giao thoa văn hóa ẩm thực Việt – Chăm khi người Việt đến định cư ở vùng đất phía Nam, do bánh tét là một trong những lễ vật của người Chăm trong lễ Tết, mang hình tượng Linga (một biểu tượng dương tính của thần Shiva trong Ấn Độ giáo) dâng cúng cho thần linh.

Đặc biệt, năm nay là năm Đinh Dậu, làm ta nhớ đến sự kiện về cái Tết lịch sử cách đây 228 năm (năm Kỷ Dậu 1789). Theo tư liệu lịch sử, bánh tét do hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ sáng tạo để dùng làm quân lương cho binh sĩ khi bí mật hành quân thần tốc từ Phú Xuân tiến quân ra Bắc Hà, đánh tan 20 vạn quân Mãn Thanh xâm lược vào Tết Kỷ Dậu (năm 1789). Sau khi thử nghiệm làm bánh tét ở làng Chuồng (Huế), nhận thấy bánh giữ được lâu (có thể đến 10 ngày) và mỗi đòn bánh tét một binh sĩ có thể ăn thay cơm trong 2 ngày; nhà vua đã huy động nhân dân Thuận Hóa gói và phát cho mỗi binh sĩ 2 đòn bánh đủ ăn để hành quân liên tục ra Bắc mà không cần phải dừng quân đóng trại để nấu ăn. Hơn nữa, bánh tét vận chuyển gọn gàng, thuận tiện, nhờ vậy quân Đại Việt đã giữ được bí mật ra quân thần tốc, để trong thời gian ngắn nhất kịp thời đến kinh thành Thăng Long, chủ động giành lấy yếu tố bất ngờ tấn công địch vào ngày Tết. Quân ta đại thắng quân Thanh, đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi, giành độc lập cho dân tộc. Sự kiện này đã để lại bài học lịch sử về chiến thuật quân sự với chiến tranh thần tốc, tốc chiến tốc thắng. Bài học ấy vẫn còn giá trị cho đến ngày nay trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, giữ nước của nhân dân ta.

Từ "tét" trong bánh tét, người cho rằng, xuất phát từ tiếng "tết" trong cách gọi bánh Tết dung để cúng trong ngày Tết của người miền Nam, phát âm lâu rngày trại đi, thành từ "tét". Cũng có người cho rằng, từ "tét" là tên gọi từ động từ "tét", chỉ hành động khi dùng loại bánh này phải tét bánh thành miếng bánh tròn. Người tét bánh có thể dùng sợi dây buộc đòn bánh tét trước khi nấu bánh để tét bánh. Một đầu dây dùng răng giữ chặt, đầu dây kia cầm tay. Tay còn lại cầm đòn bánh sau khi bóc sạch lớp lá chuối phần trên thì vòng sợi dây quấn quanh thân bánh, dùng răng và tay kéo siết cho sợi dây thắt lại, cắt thành từng lát bánh tét tròn trông đẹp mắt.

Để có được chiếc bánh tét hoàn chỉnh, phải qua nhiều công đoạn và nhiều người cùng làm, nên việc chuẩn bị và nấu bánh trong ngày Tết đã tạo nên không khí xuân đông vui, đầm ấm trong từng gia đình và làng xóm. Điều đáng nói ở đây là việc nấu bánh tét, bánh chưng hay rim mứt... chuẩn bị trong những ngày Tết, cũng như những lễ hội, lễ cúng truyền thống trong năm là một trong những hình ảnh đẹp về văn hóa truyền thống trong đời sống của người Việt. Nhất là hình ảnh chị em phụ nữ trong làng xóm, gia đình, dòng tộc quây quần bên nhau với đôi tay thoăn thoắt gói bánh cùng biết bao câu chuyện nói cười rôm rả, vui vẻ đón Xuân. Đàn ông, nam giới thì tất bật lo làm bếp lò, vác củi chuẩn bị chất đốt. Đêm xuống, các anh phải ngồi canh bếp lò, giữ cho lửa cháy đều; thỉnh thoảng, châm nước sôi vào thùng bánh, đến nửa đêm thì phải trở bánh. Tờ mờ sáng bánh chín, các anh lo vớt bánh ra lò... Những em bé theo cha thức để chờ chiếc bánh bé con mà mẹ làm riêng cho em đã ký gởi trong thùng bánh. Thỉnh thoảng, bọn trẻ tinh nghịch quậy phá, dùng que chọc vào bếp lò đang cháy rồi reo mừng khi vô số hạt lửa đỏ bay vút lên cao như trò chơi pháo hoa ngày Tết... Tất cả hình ảnh ấy đã tạo nên một góc xuân thi vị, đầm ấm cho văn hóa làng quê và khu dân cư Việt Nam khi giờ giao thừa sắp điểm.

Bánh tét, ngoài ý nghĩa truyền thống để dâng cúng, thể hiện đạo hiếu nghĩa của con cháu đối với công ơn của thần linh, ông bà tổ tiên... còn là sự quan tâm đến nhau, quây quần bên nhau thực hiện các công đoạn làm bánh tạo không khí vui vẻ, đầm ấm, tràn đầy tình làng nghĩa xóm, tình thân gia đình. Ánh lửa bừng sáng cả các góc làng quê, trong những góc nhà nông thôn phủ kín màn đêm hay các góc khu dân cư... cho ta cảnh sắc khác thường, chỉ duy nhất có được một lần trong năm. Những hình ảnh ấy hòa cùng cảnh tất bật của mọi người chuẩn bị đón mừng năm mới đã nối kết cộng đồng làm nên một bức tranh sống động của đời sống tinh thần và văn hóa ẩm thực dân gian đầy bản sắc văn hóa gắn liền vói lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, luôn luôn được trân trọng giữ gìn./.

Hạnh Nguyên

Nguồn Tạp chí Văn hóa – Thể thao và Du lịch

Sở Văn hóa và Thể thao Khánh Hòa

Số 1 – Tháng 01&02/2017